Trang

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2013

Những độc chiêu lập nghiệp của "Tây" ở Việt Nam

Chưa bao giờ Việt Nam có nhiều người nước ngoài đến thế, họ sang làm việc cho các dự án phi Chính phủ, công ty, các trung tâm ngoại ngữ và nhiều nhất là "Tây ba lô" đến Việt Nam du lịch. Và để mưu sinh, họ - những ông "Tây ba lô" - cũng lăn lộn tìm việc ở Việt Nam như người Việt thực thụ.

Khôn như... "Tây" tìm việc

Tôi gặp John Wilson tại một quán bún đậu trên phố Đinh Lễ, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Anh cho biết, sang Việt Nam được 3 năm rồi, ban đầu chỉ sang du lịch cùng một người bạn, nhưng càng ở, càng thấy Việt Nam thật thú vị. Anh muốn ở chơi lâu mà số tiền mang theo đã gần hết, nên người bạn đã giới thiệu anh tới Trung tâm ngoại ngữ trên đường Nguyễn Trãi, Hà Nội làm giáo viên dạy tiếng Anh. John đã tốt nghiệp Đại học ở Mỹ, khi mới sang Việt Nam, anh chỉ nói được câu "xin chào" vậy mà sau 3 năm, anh đã khá rành tiếng Việt.

John cho biết, ngoài giờ ăn, ngủ, phần lớn thời gian trong ngày, anh dùng để chạy sô dạy tiếng Anh. Một tháng, John kiếm được gần 2.000 USD từ dạy tiếng Anh. Có 4 cơ sở giáo dục lớn ở Hà Nội thuê anh dạy, trong đó có một trường mầm non Quốc tế. Bây giờ, anh đã biết ăn bún đậu, đi chợ biết mặc cả và anh còn nháy mắt với tôi là đang hẹn hò một cô gái Việt Nam nữa.


Một "ông Tây" đang bán hàng tại chợ Tây, phố Tô Ngọc Vân, Hà Nội.

Kenny, bạn của John lại khác, lớp của Kenny chỉ có 8 học viên, toàn thế hệ 9X. Mang tiếng là lớp học đẳng cấp quốc tế nhưng những giáo cụ để phục vụ cho một buổi dạy tiếng của Kenny lại sơ sài quá mức. Không tai nghe, không máy chiếu, cũng chẳng có băng hình như trong quảng cáo, chỉ có chiếc máy cassete cối từ những năm 90 thế kỷ trước dùng để nghe băng. Vậy mà cơ sở này thu học phí đắt kinh khủng: Gần 10 USD/buổi/học viên.

Giáo trình Kenny dạy là New Cutting Egde, bán rất nhiều ở ngoài phố. Một tiếng đồng hồ trôi qua nhưng vì Kenny nói nhanh như gió, mấy cô cậu học trò tóc high light mặt cứ nghệt ra chẳng hiểu gì. Trong bài đọc, hiểu có rất nhiều kiến thức ngữ pháp quan trọng, nhưng tuyệt nhiên không thấy Kenny giảng, câu cú ở thời đó thì vận dụng trong ngữ cảnh nào? Thầy dạy hệt như cưỡi... máy bay xem hoa, thỉnh thoảng lại gật gù: "Good! Good!".

Chị Hồng Mai, làm việc tại Trung tâm Ngoại ngữ Song Việt cho biết: Do có nhiều mối quan hệ làm ăn với người nước ngoài nên Trung tâm của chị rất nhiều Tây tìm đến xin việc. Đa phần là các thanh niên trẻ, có nhiệt huyết và yêu đất nước Việt Nam, họ tìm việc cũng khôn lắm, toàn tìm những trung tâm thu hút nhiều học viên, trả lương cao".

"Ông Tây" có bằng thạc sỹ đi... bán thịt chó

Một người bạn cũ kể cho tôi nghe về một "ông Tây" bán thịt chó trong con ngõ nhỏ của phố Huế, Hà Nội. Nhìn "ông Tây" bán quán và giải thích về các món ăn Việt Nam, nhất là món thịt chó, thông thạo như người Việt, nhiều khách mới đến quán rất ngạc nhiên, hỏi: "ông là Tây thật hay Tây rởm mà rành Việt Nam quá vậy?". Ông Tây có tên Việt là San cười: "Tây xịn, nhá!". Nhiều người còn ngạc nhiên hơn, khi biết ông Tây thịt chó này đã có bằng thạc sĩ kinh tế và dân tộc học tại Pháp.

San tên thật là Stanilas Boissau, sinh năm 1975 tại Paris, Pháp, sang Việt Nam từ đầu năm 1999 làm việc cho dự án Nghiên cứu và phát triển nông nghiệp (S.A.M) của Chính phủ Pháp tại tỉnh Bắc Kạn. San kể: "Hồi tôi mới sang Việt Nam lần đầu tiên, thấy các phong tục, tập quán của người Việt Nam cái gì cũng lạ nên muốn nghiên cứu thử xem thế nào. Tôi làm dự án ở vùng Na Rì (Bắc Kạn), tìm hiểu cách sống và nếp sinh hoạt của người Tày, Nùng, Dao nên sống chung với họ, ai ngờ thích luôn mấy món thuốc lào, rượu sắn và rượu táo Mèo. Sẵn tính tò mò, tôi tìm học luôn cách thức chế biến các thứ rượu là lạ mà hấp dẫn đó, vì biết đâu chả có lúc cần đến nó. Rồi những dự án cũng kết thúc, để có tiền sinh sống, San chắt bóp những đồng tiền đã dành dụm được, mở một quán nước nhỏ ở vỉa hè phố Huế sống qua ngày. San kể tiếp: "Nhiều hôm đói bụng mà trong túi không còn đủ tiền ăn một suất cơm bụi vỉa hè Hà Nội là chuyện thường".

Một lần, được bố vợ cho thưởng thức món thịt chó, thấy ngon, San nảy ra ý nghĩ: "Người Việt thích món này, người nước ngoài cũng thế, tại sao mình không mở quán bán món đó tại Hà Nội? Nếu thành công là sống và học tiếp được rồi!". Mấy hôm sau, vợ chồng San gom góp số tiền ít ỏi, thuê một địa điểm ở ngõ phố Huế để mở quán. Vợ San lo quản lý, còn San chạy vạy học cách chế biến món thịt chó, cả tháng trời đi tham khảo các quán khác và về cả các vùng quê để học cách bài trí quán.

Lúc đầu quán chưa đông khách, nhưng San vẫn kiên trì để giữ lượng khách quen, và San đã có ý nghĩ: "Nếu chỉ bán thịt chó không thôi thì những thực khách không ưa món này sẽ không biết ăn gì, mà ăn hôm qua rồi hôm nay đến ăn nữa cũng chán. Nếu là mình thì mình cũng không đến liên tục". San liền mở rộng thêm các món ăn truyền thống khác, tuyển thêm nhân viên biết chế biến theo cách dân dã: Cơm cá kho, dưa cà, thịt ba chỉ rang khô... Nhưng thịt chó vẫn là món chủ yếu. San cười: "Toàn món ăn với giá bình dân cả nên khách thích đến luôn. Vui nhất là quán của San cũng đã thu hút nhiều khách, đặc biệt là khách nước ngoài cũng khoái khẩu với thú ăn "cầy tơ bảy món".

Tất cả là nhờ...thịt chó Cũng nhờ số tiền kiếm được từ quán mà vợ San đã đủ vốn thành lập một công ty chuyên tổ chức các tours du lịch cho khách nước ngoài. San khoe: "Hai vợ chồng đã mua được một căn nhà nhỏ ở Gia Lâm Hà Nội, không còn phải sống cảnh ở thuê như trước nữa. Tất cả là nhờ quán thịt chó đấy! ở Việt Nam tuy không có nhiều tiền nhưng sống được lắm nhá!".

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013

Thoát chết nhờ... kinh doanh 'liều'

Tồn kho nhiều, không vốn làm ăn, ông chủ Công ty Loa tranh AA, TP HCM bị dồn vào thế bí, quyết đánh cú chót, dốc hơn trăm triệu đồng cho quảng cáo để đẩy hết hàng tồn. Nhờ vậy, công ty thoát ải "tử" trong gang tấc.


Tới thời điểm này, nghĩ lại quyết định táo bạo của mình, ông Nguyễn Hùng Sơn, Giám đốc Công ty Loa tranh AA vẫn chưa hết run. "Sức mua giảm, hàng bán ra không tiêu thụ được. Tôi nghĩ đủ cách không biết phải xoay sở ra sao. Cuối cùng đánh liều đặt quảng cáo trên báo tới 50 triệu đồng một số", ông kể.

Chưa khi nào ông chi bạo cho quảng cáo như thế. Số tiền hơn trăm triệu này càng có ý nghĩa hơn với doanh nghiệp trong bối cảnh kinh doanh khó khăn, tiền mặt hạn hẹp. "Tôi chỉ kỳ vọng sau khi quảng cáo, bán hàng với giá vốn là được. Nhưng, chỉ sau vài lần thông tin, hàng tồn kho hết sạch ngoài mong đợi", chủ thương hiệu loa tranh cho biết.

Tuy nhiên, đây chỉ là "cần câu", đòi hỏi "mồi" phải chất lượng. Công ty nhắm vào những người thưởng thức âm thanh kết hợp với nghệ thuật. Ở đối tượng này, chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng hơn giá cả. Sau vài lần quảng cáo, đơn đặt hàng từ khắp nơi đổ về. Ngoài những người mua thưởng thức, phòng kinh doanh nhận hàng chục cuộc gọi lắp đặt cho các quán karaoke.

Trong khi đó, Công ty may Sơn Việt lại có cách làm khác để vượt khó, đó là tập trung vào phân khúc khách hàng thấp hơn, và mở rộng ra các tỉnh - điều mà trước nay công ty chưa coi trọng.

Nhãn hiệu trang của Sơn Việt lâu nay luôn nhắm vào đối tượng trung và cao cấp. Tuy nhiên, trước sự thắt chặt chi tiêu, đơn hàng trong và ngoài nước của Sơn Việt đều giảm, nhiều showroom không có khách. Từ đầu năm đến nay, doanh số nhiều cửa hàng giảm 30-40% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, khi chịu khó "chăm sóc" khách hàng bình dân, công nhân, thu nhập thấp, doanh số công ty tăng lên rõ rệt.

Theo ông Hà Xuân Anh, Tổng giám đốc Công ty may Sơn Việt, nhờ vậy mà doanh nghiệp mới đảm bảo các chỉ tiêu kinh doanh. "Có nhiều đồng nghiệp trong ngành chới với do hàng tồn kho quá nhiều, làm ăn thua lỗ, không có vốn xoay sở. Tôi nhanh chóng chuyển hướng mới may mắn thoát chết", ông Anh chia sẻ.

Giám đốc một công ty trang trí nội thất tại TP HCM lại dùng liệu pháp tâm lý để khơi gợi sức mạnh trong chính mỗi nhân viên.

Giữa tháng 5, công ty mở cuộc họp được ví như "Hội nghị Diên Hồng", có sự tham gia của toàn bộ nhân viên, nói thẳng những khó khăn mà công ty đang gặp để mọi người đề xuất ý kiến - điều chưa bao giờ diễn ra trong hơn 7 năm qua.

Theo bà, chưa khi nào tính tập thể lại phát huy tối đa như vậy và nhận được kết quả ngoài mong đợi. Những công nhân sản xuất nay kiêm luôn vai trò tiếp thị sản phẩm cho bạn bè, người thân, nếu bán được sẽ nhận hoa hồng. Họ cũng chấp nhận nghỉ thứ bảy không lương nhưng vẫn đảm bảo công việc, không tăng ca để giảm tiền lương ngoài giờ. Kết quả, quý I, công ty tiết kiệm nhiều chi phí so với cùng kỳ.

Giám đốc marketing công ty về bánh kẹo tại TP HCM cho biết, chi phí đầu vào tăng cao nhưng tiêu thụ nội địa giảm mạnh. Công ty không thể đổ toàn bộ chi phí vào giá thành sản phẩm, như thế sẽ rất khó bán. Một số đối thủ trong ngành chọn cách giảm trọng lượng một chút so với trước và vẫn giữ nguyên giá bán. Do điều chỉnh trọng lượng nhẹ nên người tiêu dùng rất khó phát hiện. Điều này khiến việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành đã gay gắt lại càng quyết liệt hơn.

Theo bà giám đốc tiếp thị này, có nơi lại thay đổi bao bì, làm mới sản phẩm, nhưng chất lượng hàng hóa không đổi. Thế nhưng, người tiêu dùng cứ nghĩ đó là sản phẩm mới, nên họ vẫn chấp nhận mua, dù giá bán điều chỉnh tăng. Ngược lại, có những đối thủ lại dùng chiêu giảm giá lập lờ để kích cầu tiêu thụ, giải quyết nhanh hàng tồn kho. Ví dụ: khi mua 2 sản phẩm, khách được giảm giá 30%. Thế nhưng, thực chất, khách chỉ được giảm giá 30% ở sản phẩm thứ hai, còn sản phẩm đầu tiên vẫn bán giá cũ. Công ty cũng đang nghiên cứu phương án để gia tăng sức mua.

Tiêu thụ giảm là tình hình chung của các doanh nghiệp hiện nay, nên việc bảo đảm hoàn thành kế hoạch đặt ra cho hàng tháng, hàng quý rất khó. "Năm nay công ty co cụm sản xuất, không dám mở rộng đầu tư và dự định tổ chức nhiều chuyến hàng về vùng sâu, vùng xa, các khu công nghiệp... để đẩy nhanh tiêu thụ so với hiện tại", bà nói.

Xây toilet lớn nhất hành tinh hút khách du lịch

Nhật Bản đang chủ chương biến các nhà vệ sinh công cộng thành…thiên đường. Đến thiên đường đó, du khách được giải quyết những nhu cầu sinh lý thông thường thậm chí là được thư giãn với làn nước nóng, lạnh tùy thích và trong một không gian vô cùng lý tưởng.

Toilet dễ chịu nhất hành tinh

Tất cả các thành phố du lịch nổi tiếng trên thế giới đều có ít nhất một điểm đến đặc biệt hấp dẫn mà du khách không bao giờ muốn bỏ qua. New York có tượng nữ thần tự do, Paris có tháp Eiffel, Rio de Janeiro, Brazil có tượng chúa Jesu và Tokyo ngày nay có tòa tháp cao nhất thế giới Skytree .

Một thành phố công nghiệp ít được biết đến gần ngoại ô thủ đô Tokyo Nhật Bản cũng mong muốn phát triển ngành du lịch địa phương khi họ lên ý tưởng xây dựng công trình toilet lớn nhất thế giới.

Cách một nhà ga tại thành phố Ichihara chỉ vài bước chân mọc lên hẳn một "ốc đảo" vệ sinh công cộng nơi mà mọi người có thể đến để giải quyết... nỗi buồn.
Cũng không quá lời nếu nói đây là nhà vệ sinh dễ chịu nhất trên thế giới.

Được thiết kế bởi kiến trúc sư Sou Fujimoto, đây là một không gian mở với phong cảnh rất tự nhiên và hấp dẫn rộng 200 mét vuông và có nhiều chậu hoa sặc sỡ được xếp thành hàng, lối ngăn nắp. Người ta dễ tưởng tượng đây là một khu vườn hơn là một khu vực vệ sinh. Giữa vườn được bố trí phòng toilet có bồn cầu giành riêng cho phụ nữ. Nó khá đơn giản nhưng toát lên vẻ phóng khoáng, hoang dã vì 4 mặt được ốp kính trong suốt. Tuy nhiên, mỗi khi "làm nhiệm vụ", chị em có thể che rèm đã được thiết kế sẵn.

Chi phí duy trì hoạt động hàng năm cho toilet khổng lồ này là 125.000 USD.

Xây toilet hoàn hảo để hút khách du lịch

Với trọng trách vực dậy nền kinh tế địa phương, thành phố Ichihara xác định du lịch sẽ là một lĩnh vực triển vọng để tạo doanh thu. Tuy nhiên, việc đầu tiên là phải nâng cấp hệ thống toilet hiện nay. Khu vệ sinh của một số nhà ga có vẻ đã "quá đát" và cần nhanh chóng khắc phục. Thành phố đã tiến hành sửa chữa và nâng cấp cho 3 nhà ga vào năm 2010. Ông Fujimoto tiếp tục được giao nhiệm vụ thiết kế toilet khổng lồ và hấp dẫn tại ga Itabu và nhiều công trình khác nữa.

"Chúng tôi muốn du khách được sử dụng những toilet thật sạch sẽ như một lời chào và cảm ơn", ông Eichi Kirikae, cán bộ sở du lịch thành phố Ichihara cho biết khi bàn về nỗ lực cải thiện các dịch vụ hiếu khách trong kế hoạch thúc đẩy hoạt động kinh doanh du lịch tại địa phương.
Toilet lớn nhất thế giới?

Thành phố hi vọng toilet ngoài trời như thế này sẽ là một thế mạnh đặc biệt đồng thời cũng sẽ trở thành một phần của động lực thúc đẩy ngành du lịch. Thành phố sắp tới tổ chức lễ hội nghệ thuật 2013. Toilet lớn nhất hành tinh cũng sẽ là một "sản phẩm" nghệ thuật đặc sắc.

Có thể với những nơi khác khác, việc biến toilet thành một sản phẩm nghệ thuật còn là một điều xa lạ nhưng với Nhật Bản thì không. Khác với nhiều điểm đến du lịch khác, Nhật Bản chủ chương biến các nhà vệ sinh công cộng thành...thiên đường. Đến thiên đường đó, du khách được giải quyết những nhu cầu sinh lý thông thường thậm chí là được thư giãn với làn nước nóng, lạnh tùy thích và trong một không gian vô cùng lý tưởng.

Cũng không có gì ngạc nhiên khi những chuyên gia tại tập đoàn Toto Nhật Bản lại giành kỷ lục Guinness về khả năng tạo ra những toilet nhiều tiện ích nhất trên thế giới.

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

Bí quyết kinh doanh của 'vua chuối'

Bạn bè và đối thủ của Samuel Zemurray đều gọi ông là Sam “vua chuối”. Ông đã khởi nghiệp từ việc buôn chuối chín, thứ làm nản lòng các thương nhân hoa quả cỡ bự vì chuối chín dễ dàng trở thành món hàng đổ đi nếu bán không kịp.

Với nguyên tắc "một đốm, chuối sắp chín; hai đốm, chuối đã chín", các nhà buôn chuối bỏ hàng đống chuối chín khổng lồ tại cảng. Ở đó, đống chuối chỉ có nước chờ thối rữa hoặc bị đẩy xuống biển.

Vào khoảng năm 1895, Sam, một người Nga nhập cư trẻ tuổi, đã lần đầu nhìn thấy đống chuối chín bị bỏ ở cảng Mobile, bang Alabama. Và ông đã tìm thấy cho mình một cơ hội. Đối với một người lớn lên trong một trang trại lúa mì tồi tàn ở Bessarabia, đống chuối chín này đúng là một đống của. Đem chuối này đi bán, đến năm 1903, ông đã trở thành một nhà buôn cỡ nhỏ, với tài sản 100.000USD trong nhà băng.

Kể từ đó, Sam bắt đầu buôn cả chuối ương lẫn chuối chín. Vào năm 1909, ông tới Honduras, bỏ tiền mua và cho phát quang một diện tích rừng nguyên sinh lớn để trồng chuối. Sau đó, ông dùng một đội lính đánh thuê từ New Orleans lật đổ chính phủ Honduras và thành lập một chính phủ mới thân thiện với ông hơn. Sam thành lập một công ty chuối chất lượng cao tại đây và cuối cùng đã thâu tóm được một hãng hoa quả lớn có tên United Fruit vào tháng 12/1932. Cho tới khi qua đời vào năm 1961 trong dinh thự tư nhân lớn nhất ở New Orleans, Sam đã trải qua những công việc bao gồm thợ vận chuyển, người chăn bò, nông dân, thương nhân, nhà hoạt động chính trị, nhà cách mạng, nhà từ thiện, và giám đốc điều hành (CEO).

Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp kinh doanh của Sam "vua chuối", tờ Wall Street Journal đã rút ra một số bài học đã đưa ông tới "mỏ vàng" từ đống chuối sắp thối rữa.

1. Tự mình xem xét mọi việc

Sammuel Zemurray - Ảnh: AP.

Khi Sam quyết định trở thành một chủ trang trại chuối ở Honduras, ông đã chuyển tới sống trong rừng. Ông tự tay trồng chuối, đi xem từng vị trí trên cánh đồng chuối và xếp chuối lên thuyền. Ông tin rằng, đây là lợi thế lớn của ông so với các sếp của United Fruit, hãng chuối lớn nhất thời đó mà ông đang cạnh tranh. United Fruit lớn hơn công ty của Sam, nhưng được điều hành từ một văn phòng ở tận Boston. Sam thì khác, ông gắn với cánh đồng chuối, hiểu các công nhân của mình đang nghĩ gì, tin gì và sợ hãi điều gì.

2. Đừng tìm cách phức tạp hóa vấn đề

Vào cuối những năm 1920, United Fruit và công ty của Sam cạnh tranh nhau để giành quyền mua một mảnh đất màu mỡ nằm giữa biên giới Honduras và Guatemala. Mảnh đất này có hai chủ sở hữu, một ở Honduras và một ở Guatemala. Trong khi United Fruit thuê luật sư, tiến hành điều tra nhằm xác định xem đâu là chủ sở hữu thực sự của mảnh đất, thì Sam làm rất đơn giản: ông mua mảnh đất hai lần, mỗi lần từ một chủ sở hữu. Một vấn đề đơn giản nên được giải quyết đơn giản.

3. Tự mình tìm hiểu thực tế

Vào thập niên 1930, United Fruit khốn đốn vì đại suy thoái, với giá cổ phiếu giảm từ 100 USD/cổ phiếu xuống còn hơn 10 USD/cổ phiếu. Trong nỗ lực tìm kiếm một kế hoạch nhằm thay đổi cục diện tình hình, lãnh đạo của hãng này tham vấn các chuyên gia và nhà kinh tế, rồi nghiên cứu các báo cáo. Sam lúc này đã là cổ đông lớn nhất của United Fruit và cũng muốn có câu trả lời cho những vấn đề tương tự. Nhưng thay vì hỏi chuyên gia, ông đi tới tận bến tàu của New Orleans, tìm hiểu tình hình thông qua các thuyền trưởng và các nhà buôn hoa quả. Đó là những người hiểu tình hình thực tế.
Chuối được làm sạch tại một trang trại ở Belize

Sam đã phát hiện ra nhiều điều. Chẳng hạn, các thuyền trưởng chở chuối đã được yêu cầu đi qua Vịnh Mexico với tốc độ chỉ bằng một nửa nhằm tiết kiệm nhiên liệu. Ông cũng được biết, trong thời gian mấy ngày kéo dài thêm trên biển đó, một phần lớn lượng chuối trên tàu chuyển từ ương sang chín. Một trong những mệnh lệnh đầu tiên của Sam khi ông tiếp quản United Fruit vào năm 1932 là không được giảm tốc độ và giảm quãng đường đi lòng vòng. Trong vòng 6 tháng sau đó, giá cổ phiếu của United Fruit đã phục hồi liên tục và đạt mức 50 USD/cổ phiếu.

4. Tiền mất có thể kiếm lại được, nhưng uy tín thì một đi không trở lại

Trong giai đoạn đầu của sự nghiệp, Sam hợp tác với United Fruit. Công ty lớn này hứa sẽ hỗ trợ tài chính và giúp Sam phân phối sản phẩm. Đổi lại, Sam cho họ sử dụng các con tàu chở hàng của ông. Một năm nọ, khi công nhân trồng chuối ở Nicaragua đình công và phong tỏa các dòng sông ở nước này, United Fruit đã phá vỡ thế phong tỏa này bằng các con tàu của Sam. Do logo công ty của Sam được in bằng chữ lớn ở thành tàu, nên Sam đã trở thành cái tên bị căm ghét ở Nicaragua. Đó là một trong những chuyện khiến Sam quyết định "giải tán" mối quan hệ đối tác với United Fruit, cho dù ông đã phụ thuộc khá nhiều vào nguồn tài chính của công ty này. Với Sam, một người không kiểm soát được tên tuổi và hình ảnh của mình sẽ chẳng có thứ gì.

5. Nếu bị hoài nghi, hãy làm việc gì đó

Khi Sam tiếp quản United Fruit vào năm 1932, công ty này sắp sửa sụp đổ. Giá cổ phiếu của United Fruit khi đó đang hướng về mốc 0 USD, những công nhân giỏi nhất thì bỏ đi. Ngay khi tiếp quản công ty, Sam đã lập tức thực hiện những chuyến đi con thoi giữa Trung và Nam Mỹ, gặp gỡ công nhân trên các cánh đồng chuối và thăm dò ý kiến của họ. Ông hiểu rằng, các công nhân làm việc trên cánh đồng chuối cần phải biết là đang có một người quản lý họ. Nếu họ biết những gì mà ông đang làm, thì họ sẽ theo ông tới bất kỳ đâu.

Wall Street Journal kết luận, những bí quyết kinh doanh của của Sam "vua chuối" có thể gói gọn lại trong một câu nói: Quyền lực đến từ tri thức, thông tin và kinh nghiệm. Những điều này gắn với thực tế như cây chuối mọc lên từ mặt đất. Nếu tách rời thực tế, thì bạn sẽ thất bại.

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2013

Kiếm triệu đô từ nghề… mặc áo

Ý tưởng bán diện tích quảng cáo trước ngực mình đến với anh Jason Sadler người Mỹ từ 4 năm trước. Ngay trong năm đầu tiên, anh đã kiếm được số tiền 70.000 USD, không tồi với một doanh nhân 26 tuổi vừa mới khởi nghiệp và hầu như không có đồng vốn nào trong tay.

Theo trang blog kinh tế Business Insider, từ đó đến nay, Sadler ngày càng ăn nên làm ra. Năm ngoái, anh và 4 cộng sự trong công ty chuyên mặc áo phông có in quảng cáo đã đạt doanh thu 500.000 USD. Khách hàng quảng cáo của họ là những công ty có tên tuổi ở Mỹ như Arizona Tea, Starbucks, Pizza Hut, Nissan Lucky Brand, Zappos, Prudential, LifeLock...

Phương thức quảng cáo của Sadler rất đơn giản, ngoài việc anh mặc áo phông có in logo của khách hàng quảng cáo, anh sẽ xuất hiện trong chiếc áo có logo cùng với thông điệp và sản phẩm của khách hàng trong các đoạn video hoặc hình ảnh đăng trên các trang web như Twitter, Flicker, YouTube, Facebook, UStream.tv...

Sadler nảy ra ý định thành lập công ty quảng cáo IwearYourShirt.com vào năm 2008. Khi ý tưởng này đến với Sadler, anh và một người bạn đang bận rộn thành lập một công ty thiết kế web và Sadler hoàn toàn thiếu kinh nghiệm về lĩnh vực kinh doanh mới mà anh vừa nghĩ tới.

"Khi đó, tôi chẳng có kinh nghiệm nào về truyền thông xã hội. Trên Facebook, chắc tôi chỉ có khoảng 100 người bạn. Tôi cũng chẳng có tài khoản trên Twitter. Nhưng một vài khách hàng vẫn hỏi chúng tôi về truyền thông xã hội và tôi nhận thấy lĩnh vực này có thể trở thành một công cụ cho quảng cáo", Sadler nhớ lại.
Mục tiêu của Sadler là tìm ra một phương thức có tính tương tác cao cho các công ty quảng bá thương hiệu, có đi kèm với quảng cáo trên các phương tiện truyền thông xã hội.

Mục tiêu của Sadler là tìm ra một phương thức có tính tương tác cao cho các công ty quảng bá thương hiệu, có đi kèm với quảng cáo trên các phương tiện truyền thông xã hội. Cuối cùng, anh quyết định sử dụng chiếc áo phông (T-shirt), một loại áo dễ mặc mà giá thì lại rẻ, giúp chi phí ban đầu cho dự án kinh doanh này gần như bằng 0.

"Tôi đi cắt tóc và chi 100 USD để mua một máy camera", Sadler kể lại những bước đi đầu tiên của anh.

Công việc chính của Sadler vẫn là làm tại nhà, giải quyết công việc marketing cho công ty thiết kế web mà anh sáng lập cùng bạn, nên anh có thể thoải mái mặc gì tùy thích. Và áo phông có in logo của khách hàng quảng cáo chiếm gần hết cả tủ đồ của anh.

Không lâu sau, Sadler đã thu hút được sự chú ý trên các mạng xã hội và một số người muốn tham gia cùng anh. Cách làm của Sadler cũng đã được giới truyền thông truyền thông chú ý. Báo New York Times hồi năm 2009 đã có một bài viết về anh.

Điểm hấp dẫn nhất trong ý tưởng của IWearYourShirt.com đối các công ty là chế độ áp dụng mức giá rất đặc biệt của Sadler. Giá quảng cáo áp dụng cho mỗi ngày bằng đúng với thứ tự của ngày đó trong năm. Chẳng hạn, giá quảng cáo vào ngày 1/1 chỉ là 1 USD, nhưng công ty nào muốn quảng cáo vào ngày cuối cùng của tháng 12 sẽ phải trả 365 USD.

Sadler tin rằng, cách làm của anh là một giải pháp hợp lý cho các công ty muốn cắt giảm chi phí quảng cáo. "Các công ty có thể phải trả hàng chục nghìn USD mỗi tháng để quảng cáo tính theo từng click chuột, để rồi bị mất hút trong hàng triệu quảng cáo khác", anh nói.

Mức giá mà Sadler đưa ra quả thực là một món hời. Anh nhanh chóng kiếm được khoản tiền đầu tiên và chỉ trong vòng có 6 tháng, anh đã bán hết quảng cáo cho cả năm.

Để đáp ứng nhu cầu gia tăng, Sadler bổ sung thêm "người mặc áo phông" vào dự án của anh. Giờ thì nhóm của Sadler đã có 5 người, bao gồm cả anh. Sadler có một quy trình tuyển dụng đặc biệt và sáng tạo, khiến anh tin rằng thương hiệu của mình sẽ tiếp tục ăn nên làm ra. Khi tuyển người, Sadler yêu cầu ứng viên gửi một đoạn băng video dài 3 phút giải thích lý do vì sao là ứng cử viên thích hợp cho công việc, đồng thời cho phép người xem bỏ phiếu để chọn ra những đoạn băng hấp dẫn nhất.

Sadler trả cho các nhân viên mặc áo phông này từ 25.000 - 35.000 USD/năm, chưa kể tiền thưởng, máy tính xách tay Mac và các thiết bị ghi hình cần thiết để sản xuất các đoạn video.

"Tôi không đòi hỏi họ phải nộp hồi sơ, tôi cũng không quan tâm người giới thiệu. Sau khi xem những đoạn video xuất sắc nhất, tôi nói chuyện với người được chọn và mời họ tới Florida. Thế là xong. Đoạn video của họ là tất cả những gì tôi muốn xem", Sadler cho biết.

"Mọi người luôn tự hỏi tôi sẽ được gì từ cách làm này và làm thế nào chúng tôi có thể tiếp tục phát triển, vì đây là một kiểu kinh doanh kỳ quặc. Nhưng chúng tôi vẫn đang phát triển. Thực ra, vào tháng 7 này, chúng tôi sẽ chuyển sang hướng đi mới", anh tiết lộ thêm.

Theo mô hình cũ của Sadler, các công ty trả tiền cho một ngày được quảng cáo và "người mặc áo" mặc mỗi ngày một chiếc áo khác nhau. Nhưng theo mô hình mới, các công ty muốn quảng cáo sẽ trả tiền theo tuần làm việc. Bằng cách này, các công ty sẽ thu hút được nhiều sự chú ý hơn, đồng thời cho phép Sadler và các cộng sự "mặc áo" của anh có thời gian nghỉ ngơi vào cuối tuần và các ngày lễ. Cho tới gần đây, họ vẫn phải mặc áo có in hình quảng cáo vào cả những dịp đặc biệt và ngày nghỉ như Giáng sinh hay lễ Tạ ơn.

Bên cạnh đó, cách tính giá quảng cáo cũ cũng chuẩn bị được xóa bỏ, thay vào đó là cách tính giá theo từng gói quảng cáo.

Khi Sadler khởi động IWearYourShirt.com, anh không viết một kế hoạch kinh doanh nào vì anh muốn phát triển đến đâu sẽ đặt ra mục tiêu đến đó. "Nếu viết kế hoạch kinh doanh thì có lẽ tôi đã thất bại rồi. Quá nhiều người lên kế hoạch và cứ bị gắn chặt vào kế hoạch đó. Nếu như bạn có định lên một kế hoạch kinh doanh thì hãy viết nó bằng bút chì. Bằng cách này, bạn có thể tha hồ tẩy xóa và chỉnh sửa", Sadler chia sẻ kinh nghiệm.

Thứ Ba, 19 tháng 11, 2013

Trung Quốc: Rộ mốt kinh doanh sửa chữa hàng hiệu

Sự khan hiếm các dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng và chăm sóc sản phẩm của các thương hiệu cao cấp quốc tế đã mang đến những cơ hội mới cho các nhà kinh doanh Trung Quốc. Tuy nhiên, thị trường này đang phải đối mặt với không ít thử thách.

Dịch vụ hút khách

Chị Candy Xie tìm đến một cửa hàng nhỏ cạnh trung tâm thương mại thế giới tại Bắc Kinh để tẩy những vết mực trên chiếc ví Gucci của mình với giá 300 tệ (47,1 USD). "Tôi phải làm vậy vì cửa hàng ủy quyền của Gucci từ chối xử lý sự cố này" Xie chia sẻ.

Xie chỉ là một trong hàng trăm triệu khách hàng Trung Quốc gặp phải những trục trặc khi sản phẩm của họ bị lỗi, hỏng và cần sửa chữa.

Các nhà sản xuất những thương hiệu cao cấp thường không có nhiệm vụ phải xử lý những sự cố như vậy và việc sửa lại sản phẩm bị hỏng tốn rất nhiều thời gian của khách hàng bởi tại Trung Quốc số lượng các xưởng bảo dưỡng chính hãng này chỉ đếm trên đầu ngón tay. Sự khan hiếm này thực sự đã mang đến cơ hội cho các nhà kinh doanh Trung Quốc.

Beijing Landscape Luxury Leather Repair and Maintenance, được thành lập năm 2010 chỉ là một cửa hàng chuyên xử lý những sự cố cho những sản phẩm hàng hiệu. Mỗi tháng thu nhập của họ lên tới 150.000 tệ, Wang Ruilin, giàm đốc marketing của công ty cho biết.

Chí cho mỗi dịch vụ là khác nhau nhưng nhìn chung dao động từ 250 đến 500 tệ. Tuy nhiên có những khách hàng phải bỏ ra hàng ngàn tệ bởi sản phẩm của họ yêu cầu phải thực hiện nhiều công đoạn xử lý.

Bên cạnh dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng, một số khách hàng còn có nhu cầu chỉnh sửa bởi kiểu dáng của sản phẩm gốc không phù hợp với thị hiếu của người Trung Quốc, ông Wang cho biết.

Hầu hết thắt lưng thương hiệu quốc tế đều rất dài và khách Trung Quốc thường phải cắt bớt đi khoảng 6 đến 8 cm.
"Chúng tôi có thể hợp tác với những thương hiệu cao cấp nếu họ muốn" Li Rixue, chủ tịch Secoo China, một công ty hoạt động trong lĩnh vực bán các sản phẩm hàng hiệu secondhand, cung cấp các dịch vụ liên quan đến hàng cao cấp.

Các thương hiệu cao cấp quốc tế sẽ không xây dựng hẳn một nhà máy bảo dưỡng mới tại Trung Quốc bởi việc này sẽ tốn của họ rất nhiều chi phí. Vì thế, hợp tác với những công ty đã có mặt trên thị trường có thể là giải pháp tốt nhất dành cho họ, ông Li nói.

Ông cũng cho biết thêm, công ty Secoo vừa nhận được số vốn đầu tư trị giá 30 triệu USD và phần lớn trong số đó được dùng để xây dựng một nhà máy bảo dưỡng rộng 2.800 mét vuông và đã đi vào hoạt động trong tháng Sáu này.
"Tôi đã rất lạc quan và tin tưởng vào tương lai sáng sủa cho lĩnh vực kinh doanh bảo dưỡng và chăm sóc hàng hiệu mặc dù đó không phải là lĩnh vực chính của chúng tôi", ông cho biết.

Một phần trong dịch vụ chăm sóc sản phẩm của Secoo là dành cho các khách hàng mua sản phẩm tại cửa hàng hàng cao cấp secondhand của họ và hoàn toàn miễn phí.

"Thị trường bảo dưỡng và chăm sóc hàng hiệu có nhiều tiềm năng", ông Li nhận định.

Trước kia, người Trung Quốc mua hàng hiệu và việc bảo dưỡng cũng như chăm sóc sản phẩm không phải là vấn đề gì to tát. Nhưng hiện nay, tình hình đã khác khi mà số những người Trung Quốc mua hàng hiệu và có nhu cầu đối với dịch vụ này không ngừng gia tăng.

Theo báo cáo của tập đoàn tư vấn Boston Consulting Group ngày 5/6 vừa qua, Trung Quốc cũng sẽ là thị trường tiêu thụ hàng hiệu lớn nhất thế giới đến năm 2015. Doanh thu thị trường từ khách hàng Trung Quốc gia tăng chóng mặt trong thời gian vừa qua.

Ngay cả những cửa hàng đánh giày hiện nay cũng kiêm thêm dịch vụ chăm sóc hàng hiệu. Cô Wang cùng em trai mở một chuỗi của hàng đánh giày tại Bắc Kinh cũng nhận dịch vụ sạch những túi xách hàng hiệu nếu khách hàng có nhu cầu

Bởi cửa hàng thì quá nhỏ nên cô Wang thường phải gửi túi của khách đến trụ sở. "Đó thực sự là một cơ hội làm ăn mới đối với chúng tôi và trong tương lai, rất có thể chúng tôi sẽ tạo ra những chiếc túi xách hàng hiệu của chính mình".

Không ít thử thách


Tuy nhiên, những nhà kinh doanh nhiều tham vọng vẫn phải đối mặt với không ít thử thách tại thị trường mới mẻ này và yếu tố công nghệ cũng là một trong số đó. Nhiều người kinh doanh hiện đang tỏ ra thiếu tự tin về triển vọng trong tương lai.

Thực tế, có nhiều cửa hàng bảo dưỡng làm hỏng sản phẩm của khách hàng. Những sản phẩm này thường không sản xuất thủ công nên việc sửa chữa, chăm sóc phải được thực hiện rất cẩn thận.

Anh Cai phàn nàn với một website bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng rằng, anh có tìm đếm một cửa hàng sửa chữa hàng hiệu gần Wokers' Stadium, Bắc Kinh để nhờ họ đánh bóng chiếc thắt lưng hiệu LV của mình vào hồi tháng Hai nhưng chúng lại bị nhuộm màu. Bên trong thắt lưng bị hỏng do là ủi và sau đó không thể dùng được. Tuy nhiên, chủ cửa hàng từ chối hoàn lại tiền.

"Chúng tôi cũng nhận được một số sản phẩm hàng hiệu bị hỏng do các cửa hàng khác gây ra", ông Wang Ruilin cho biết.

Những người làm việc trong lĩnh vực bảo dưỡng và chăm sóc hàng hiệu đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm hơn là chỉ hiểu lý thuyết suông. Tuy nhiên, có một số người làm việc tại các cửa hàng này lại chỉ hoàn thành một khóa đào tạo nghề chừng hai tháng.

"Những người thợ như vậy không thể xử lý được những sự cố phức tạp của sản phẩm mà những chi tiết của hàng hiệu thì muôn hình vạn trạng", ông Wang nói.

Các nhà phân tích thị trường đang kêu gọi thành lập những tiêu chuẩn cụ thể để quản lý hoạt động của những cửa hàng này.

"Secoo đang cố gắng tạo ra những tiêu chuẩn nhất định để tránh việc mang đến những dịch vụ kém chất lượng vốn đang hiện diện trong lĩnh vực kinh doanh này", chủ tịch Li. Các nhà phân tích cũng cảnh báo những nhà kinh doanh không nên quá vội vã chuyển sang thị trường bảo dưỡng hàng hiệu bởi sự cạnh tranh đang trở nên ngày càng gay gắt tại các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải.

Hiện có khoảng 30 cửa hàng bảo dưỡng hàng hiệu tại Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Tình trạng cạnh tranh gay gắt có thể gây ra những cuộc chiến giá cả.

"Một số cửa hàng tại Hàng Châu bắt đầu cắt giảm giá xuống chỉ còn 40 tệ cho dịch vụ làm sạch túi xách. Với mức giá dịch vụ như thế thì rất khó khăn để họ có thể thu được lợi nhuận khá", ông Wang Ruilin cho biết.

"Sự bão hòa nhanh chóng sẽ tàn phá thị trường bảo dưỡng hàng hiệu. Ngành công nghiệp bảo dưỡng hàng hiệu cũng giống như các ngành khác, sẽ cần một hành trình dài để đi. Tuy vậy, chúng tôi cũng khá lạc quan về triển vọng trong tương lai", một nhà phân tích cho biết.

Kinh doanh không gian hoài niệm

Việc tìm những không gian xưa cũ trong lòng Thủ đô vốn ồn ào, náo nhiệt trở thành một nhu cầu của không ít người. Nắm bắt điều này, nhiều nhà hàng với thiết kế không gian cũ đã hút khách, kinh doanh thắng lớn.

Quay lại đầu thế kỷ trước

Nhà hàng 1946 ở Hoàng Cầu - Hà Nội với không gian đậm nét văn hóa đầu thế kỷ XX. Ngay tên nhà hàng cũng đã gợi cái gì đó quá vãng, xa xôi trong một nỗi niềm tò mò.

Người điều hành nhà hàng chia sẻ, với mong muốn lưu giữ lại phần nào những kỷ niệm thiêng liêng và đẹp đẽ, nhà hàng 1946 được hình thành và hoạt động. Năm 1946 cũng đánh dấu thời kỳ mới tươi đẹp của đất nước khi đất nước được độc lập.

120 món ăn của nhà hàng được sưu tầm từ khắp các vùng miền. Các món ăn thuần Việt, được phục dựng theo hương vị truyền thống. Mỗi món ăn gắn với sự lao động công phu của người nông dân. Dưa muối phải là dưa Đông Dư, vùng quê gần Bát Tràng (Hà Nội). Món lạc nhắm rượu thì cũng phải là lạc đỏ Nghệ An. Hay món cá chìa vôi được đánh bắt ở vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa. Khách hàng vẫn đùa rằng: Ăn món ăn này để cổ vũ cho người dân chài lưới đang bảo vệ chủ quyền của đất nước...

Những chiếc bát được nhà hàng sử dụng là loại bát "chiết yêu" được sưu tầm từ các vùng quê Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Bình, Nam Định...

Không gian quán đầy hoài niệm với bộ sưu tập nhiếp ảnh cổ 1880 - 1942 gồm những hình ảnh về Hà Nội với phố cổ, tàu điện... Đặc biệt, chủ nhà hàng mất gần 1 năm để liên hệ với những người Pháp qua bạn bè, thư điện tử để có thể có được bộ sưu tập hình ảnh sinh hoạt của cộng đồng dân cư Hà Nội trong thời kỳ Pháp thuộc.

Chủ nhà hàng kể, nhiều khách hàng cao tuổi đứng hồi lâu xem bộ sưu tập nhiếp ảnh cổ 1880 - 1942 treo trên tường để so sánh "ngày đó - bây giờ" hoặc tò mò nghe nhóm bạn trẻ tranh luận sôi nổi về món lẩu riêu cua bỗng rượu. Rồi những bạn trẻ lần đầu thấy bát "chiết yêu" như một phát hiện mới lạ về văn hóa dân gian đã mất dần.

Quán ăn "bao cấp" của thế kỷ 21

Khuất trong con ngõ nhỏ ven hồ Trúc Bạch, Cửa hàng ăn uống mậu dịch số 37 làm sống lại một thời bao cấp của Hà Nội xưa.

Tiếng đài cát-sét cũ treo trên bức tường gạch phát ra âm thanh rè rè khiến cho không gian cửa hàng đậm chất hoài niệm của những năm trước Đổi mới. Không gian quán với mái ngói cấp 4, tường quét vôi thô. Những đồ vật có từ thời bao cấp hiện diện ở khắp không gian quán, từ chiếc điện thoại cũ kỹ, chiếc máy chữ xỉn màu đến đôi dép cao su, nón lá, viên gạch xếp hàng, chiếc quạt tai voi, quạt con cóc... đến tem phiếu mua hàng như phiếu mua phụ tùng xe đạp, phiếu mua pin, mua chất đốt...

Những dòng chữ: "Ở đây có bán nước sôi", "Ở đây tai vách mạch rừng. Có gì bí mật xin đừng nói ra"... được họa sĩ Quách Đông Phương - một họa sĩ chuyên kẻ chữ thời bao cấp kỳ công kẻ vẽ bằng tay, sơn màu cẩn thận để cho thật giống thời xưa.

Ngay cả bộ bàn ghế cũng được sáng tạo từ chân máy khâu cũ. Đặc biệt, bộ ảnh đen trắng ghi lại cuộc sống ở Hà Nội những năm 70 của thế kỷ trước được họa sỹ Lê Thiết Cương mua lại bản quyền từ nhiếp ảnh gia người Thụy Điển góp phần tái hiện một góc không gian Hà Nội thời bao cấp.

Chủ nhân của cửa hàng là ông Phạm Quang Minh - một người sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Do vậy, với ông, thời bao cấp đã trở thành một kỷ niệm sâu sắc.

Ông Minh tâm sự, ý định mở một hàng ăn chứa đựng nhiều kỷ niệm về thời ấu thơ đã nhen nhóm từ lâu và ngày càng trở nên mãnh liệt trong ông. Ông Minh đã cất công mày mò, sưu tập hàng năm trời những vật dụng đặc trưng của thời bao cấp, từ những chiếc bát cũ kỹ tróc men đến những chiếc quạt gãy cánh long ốc...

"Muốn tái hiện thời bao cấp nên tôi mở quán ở nơi phố cổ. Tôi hi vọng là sau khi đến đây, những người trẻ tuổi sẽ có thể hình dung được phần nào về một thời khốn khó của đất nước, của cha mẹ họ để họ sống có trách nhiệm và ý nghĩa hơn. Đây chính là một yếu tố hấp dẫn khách hàng đến đây".

Dưa xào tóp mỡ, cá khô Mậu dịch, bánh đúc tương, cơm độn khoai, phở trộn cơm nguội... có trong thực đơn của quán là những món ăn có thể xa lạ với những người trẻ tuổi nhưng đối với những ai đã trải qua thời bao cấp, chúng lại khơi gợi nhiều nỗi niềm.

Khi mua đồ ăn đồ uống tại Cửa hàng ăn uống mậu dịch số 37, khách hàng phải mua các loại tem phiếu để đổi lấy đồ ăn đồ uống tương ứng. Việc thanh toán cũng được thực hiện thông qua tem phiếu.

Anh Phạm Minh Hiệp (đường Nguyễn Ngọc Vũ, Cầu Giấy, Hà Nội) chia sẻ: "Thấy thông tin về quán trên mạng Internet, vốn yêu thích những không gian Hà Nội xưa, mình rủ mấy người bạn thân đến để khám phá. Ở đây, mình được thưởng thức những món ăn ngày bé đã được ăn mà giờ đây không thể tìm lại ở bất cứ quán nào khác như dưa xào tóp mỡ.

Thường nghe bố mẹ kể lại những câu chuyện về thời bao cấp khó khăn, nào là phải xếp hàng, phải mua tem phiếu, phải ăn cơm độn... Mình muốn hiểu hơn về một thời kỳ mà ông bà, cha mẹ đã trải qua khi đến quán ăn đặc biệt này".

Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2013

Hốt bạc nhờ đầu cơ vào sự... đổ vỡ kinh tế

Từ một dân buôn cò con chuyên đánh quả lẻ, chỉ sau một phi vụ đầu cơ để đời, John Paulson đã lập kỷ lục về thu nhập, kiếm được gần 4 tỷ USD trong năm 2007. Ông nhanh chóng gia nhập thế giới dành cho những siêu tỷ phú và trở thành ngôi sao sáng trong giới đầu cơ. Tài phiệt người Mỹ này cũng được mệnh danh là "ông hoàng của vay dưới chuẩn", vung tiền thâu tóm cả tá ngân hàng, nhà đất phố Wall, trục lợi từ sự bất ổn của nền kinh tế.

"Ông trùm" thâu tóm nhà băng phố Wall

Theo lý lịch trích ngang của tỷ phú John Paulson, trước khi quyết định dấn thân vào phi vụ đầu cơ để đời, ông từng làm đủ nghề cò con để kiếm sống. Vốn là một sinh viên Đại học Havard, tài năng có thừa, bản lĩnh không thiếu nhưng điều ông kỳ vọng là cơ hội thì chưa một lần mỉm cười. Trải quả 10 năm lăn lộn thương trường, những gì ông xây dựng được chỉ là con số không tròn trĩnh.

Cũng giống như rất nhiều cư dân của thế giới đầu cơ khi khởi nghiệp, Paulson nhanh chóng nhận ra rằng, nếu chỉ làm công ăn lương hoặc trông cậy vào khoản tiền thưởng hay hoa hồng sau mỗi phi vụ kinh doanh thành công thì chỉ mãi "dậm chân tại chỗ". Giấc mơ đặt chân vào giới thượng lưu sẽ mãi chỉ là ảo tưởng. Muốn kiếm tiền nhanh thì phải có gan liều và chấp nhận rủi ro. Ông quan niệm, khái niệm "đầu tư" chỉ là mỹ từ đánh lừa nhận thức bởi thực chất của đầu tư là đầu cơ, là bỏ tiền ra nhằm vào cái gì đó hiện chưa chắc có thành hiện thực trong tương lai hay không.

Với kinh nghiệm tích lũy được, Paulson quyết định thành lập công ty riêng, gõ cửa thế giới đầu cơ chỉ với vài nhân viên và 2 triệu USD huy động được. Ông vận dụng triết lý "nước lặng là nước sâu", đứng trong bóng tối quan sát sự việc xảy ra ở khu sáng để kiếm lời. Nhân vật này có biệt tài nhìn thấy được bóng dáng cuộc khủng hoảng và thu lợi ngay từ nguy cơ đó thay vì gióng lên tiếng chuông báo động. Thủ đoạn của Paulson lại lợi dụng kinh tế suy thoái, dùng tiền và quan hệ mua lại các khoản nợ của những công ty đang gặp khó khăn. Khi nền kinh tế bắt đầu phục hồi trở lại, ông bắt đầu hốt bạc từ những "cỗ máy kiếm tiền" này.

Trên đà làm ăn như "lên đồng", Paulson bắt đầu khiến giới đầu cơ toàn cầu "khiếp vía" với những phi vụ đầu tư của mình. Ông lần lượt thâu tóm một số ngân hàng, nhà đất phố Wall, gây ảnh hưởng nên hệ thống tài chính của nước Mỹ nhờ sức ép từ những quỹ đầu cơ do mình nắm giữ. Tuy nhiên, vừa ra "biển lớn" ông đã bị ăn "quả đắng". Giữa năm 2005, Paulson cho rằng kinh tế Mỹ có vấn đề nên tập trung đầu cơ vào sự giảm giá của cổ phần các doanh nghiệp. Nhưng tỷ giá chứng khoán ở Mỹ vẫn cứ tiếp tục tăng cho tới cuối năm 2005. Paulson bị "chết hụt", nhưng đổi lại được bài học xương máu là không thể tin cậy được vào thông tin của kẻ khác. Ông ngẫm ra rằng: "Điều chắc chắn nhất là chẳng có gì chắc chắn cả", "quy luật quan trọng nhất là chẳng có quy luật nào cả" và "nguyên tắc tối thượng là cái gì cũng có thể xảy ra".

Sau thời gian "nếm mật nằm gai", "ông hoàng" mới nổi này quyết định đi nước cờ một ăn một thua. "Ngửi" thấy mùi chiến thắng, ông quyết định đặt cược vào sự sụp đổ của thị trường nhà đất phố Wall. Thật kỳ lạ, những diễn biến của thị trường sau đó đều hệt như suy tính của Paulson. Khủng hoảng tài chính bung ra và Paulson thu về 3,7 tỷ USD trong năm 2007, vượt xa kỷ lục do "ông vua đầu cơ" George Soros lập với 2,9 tỷ USD hay James Simons trước đó với 2,8 tỷ USD. Cũng trong năm 2007, tất cả các quỹ của Paulson đều thắng lớn khi kiếm được tới 15 tỉ USD. Cũng từ đây, thế giới đầu cơ lộ diện thêm một ngôi sao mới. Cái tên John Paulson khiến cư dân phố Wall "kinh hồn bạt vía". Về sau, có lần Paulson khái quát hóa bí quyết thành công của mình là kiên trì, biết mình và biết thời thế.
John Paulson.

Giới quan sát cũng cho biết, để được "lên người", Paulson từng phải đối đầu với hàng chục công ty khác ở phố Wall. Ông từng bị đối thủ cáo buộc có những hành động nhằm thao túng thị trường với chính quyền. Paulson phải đối mặt với sự hoài nghi của các nhà đầu tư khác. Để tránh bị "chọc gậy bánh xe", thông tin về vụ đầu tư quyết tử này thậm chí còn được bảo mật đến mức, ông sử dụng phần mềm ngăn chặn các nhà đầu tư chuyển tiếp các email của mình.

"Ông hoàng" hết thời vì trượt dốc

Năm 2011 được coi là năm làm ăn vận hạn của Paulson. Quỹ đầu cơ do ông "cầm đầu" liên tục gánh thất bại, hàng tỷ đô đã không cánh mà bay sau những quyết sách sai lầm của "ông chủ". Sau phi vụ thắng đậm năm 2010, Paulson quả quyết rằng, năm 2011 ông sẽ tiếp tục chiến thắng. Ông bắt đầu đặt cược lớn và mạo hiểm hơn. Paulson đã mua lại số cổ phần lớn tại các ngân hàng như Bank of America, Wells Fargo, JPMorgan Chase, Capital One. Ông cũng dốc túi thâu tóm cổ phiếu của các tập đoàn khai thác vàng, mà ông dự kiến sẽ tăng về giá trị khi lạm phát tăng... Tỷ phú này cho rằng nền kinh tế sẽ hồi phục và ông sẽ thu lời lớn từ những khoản đầu tư này. Thế nhưng, hầu hết những thương vụ đầu tư của ông đã suy giảm giá trị nghiêm trọng khi thị trường ngày càng đi xuống và cuộc khủng hoảng tại châu Âu đã diễn biến tồi tệ hơn.

Thảm họa chưa dừng lại. Không lâu sau khi ông liều lĩnh thâu tóm công ty Sino-Forest, công ty này bị Ủy ban chứng khoán Ontario (Canada) buộc tội lừa đảo. Paulson thậm chí còn bị một cựu đồng sự kiện lên tòa án Miami (Mỹ) vì không kiểm tra, thẩm định đầy đủ trước khi rót vốn đầu tư. Từ sau những vụ lùm xùm này, tiền trong túi ngày một hao hụt, tiếng tăm của Paulson cũng sa sút nghiêm trọng.

Nhìn lại một năm đen tối, các quỹ của Paulson gánh khoản lỗ khổng lồ. Rất khó để tính toán chính xác con số lỗ thực sự nhưng theo các báo cáo gửi nhà đầu tư của Paulson, tính đến cuối năm 2011, các quỹ của ông đã có ít hơn 13,2 tỉ USD giá trị tài sản so với cuối năm 2010. Ông thừa nhận đã phạm một số sai lầm lớn như đánh giá thấp cuộc khủng hoảng nợ châu Âu, quá lạc quan về nền kinh tế Mỹ... "Tình hình hoạt động năm 2011 rõ ràng là không thể chấp nhận được. Nhưng chúng tôi tin rằng năm 2011 chỉ là một phút lầm lạc trong chuỗi dài hoạt động của chúng tôi", Paulson phân trần.

Năm 2012, theo thống kê, khối lượng tài sản mà tỷ phú này quản lý đã sụt giảm mất 1 nửa, từ mức đỉnh 38 tỷ USD xuống chỉ còn 19,5 tỷ USD. Một số nhà đầu tư, trong đó có những nhà đầu tư cỡ bự đã và đang rút tiền ra khỏi các quỹ đầu cơ của tỷ phú này.

Siêu tài phiệt John Paulson cùng một số nhân vật chóp pu khác từng nằm trong tầm ngắm của Quốc hội Mỹ. Ông đã phải ra điều trần trước một Ủy ban điều tra của Quốc hội Mỹ về những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xuất phát từ Mỹ. Các nhà lập pháp Mỹ muốn biết liệu những siêu tỷ phú này có góp phần giật dây cho sự sụp đổ tài chính trong thời gian qua hay không. Tổng thống Mỹ Barack Obama từng tuyên bố: "Sẽ có một quyết định liên quan đến các quỹ đầu cơ và các cơ quan tính điểm (chuyên tính giá trị các công ty)". Bộ trưởng Tài chính Mỹ Tim Geithner cũng dự định trình Quốc hội một dự luật giúp kiểm soát và giám sát tốt hơn đối với các quỹ đầu cơ.

Trong năm 2008 đầy biến động, quỹ đầu cơ của Paulson đã kiếm lãi đến 37,6%! Nhờ đặt cược vào sự sụt giảm của các giá trị tài chính khi bán ra kịp các cổ phiếu xuống dốc, Paulson thu lãi cho riêng mình 2 tỉ USD trong năm. Đến năm 2010, quỹ của Paulson đã trở thành một trong những quỹ đầu cơ lớn nhất thế giới với 32 tỉ USD giá trị tài sản được quản lý. Trong đó gần 60% là tiền của "ông chủ". Từ đây, Paulson được biết đến dưới cái tên "ông hoàng của vay dưới chuẩn". Nguyệt san Trader Monthly đã bình bầu là "nhà buôn tài chính của năm", một huyền thoại trong giới tài chính.

Thứ Năm, 14 tháng 11, 2013

Vay vàng để bán sách, lãi cả sách lẫn vàng!

Ông bà chủ của cửa hàng sách tư nhân nổi tiếng nhất Hà Nội - người khởi sự cho nghề kinh doanh sách ở phố sách Đinh Lễ.
Có thể có, có thể không trở thành triệu phú từ bán sách, nhưng những người đi lên từ bán sách rong như vợ chồng người cán bộ hưu trí này thật đáng trân trọng. Họ chính là những người đầu tiên và tiếp tục "giữ lửa" cho văn hóa đọc của người Việt ở con phố này.

Từ nôi sách đến vỉa hè: Vừa bán vừa chạy
La liệt sách và tấp nập người mê sách, Phố Đinh Lễ ngày nay có thể được người Hà Nội gọi vui với cái tên Phố "Hàng Sách". Ở đây, từ cửa hàng trong ngõ đến nhà sách mặt đường, sách tràn nhà, tràn ngõ, tràn phố.

Trong giới làm sách và những người mê sách ở Hà Nội thì không mấy ai không biết tiếng ông bà Lê Luy - Phạm Thị Mão và thế giới sách trong ngõ hẻm của họ.

Năm 1990, bà Mão là cán bộ Tổng Công ty phát hành sách Trung ương nghỉ hưu không lương, đồng lương hưu ít ỏi của ông Luy (giáo viên trong ngành Công an) không đủ nuôi cả gia đình. Hai ông bà quyết định kinh doanh sách kiếm thêm thu nhập.

Ông bà bắt đầu với một chiếc nôi nhỏ bày sách ở chân tháp Hòa Phong bên hồ Hoàn Kiếm, rồi chuyển sang vỉa hè cạnh Bưu điện (chỗ ngã ba Đinh Tiên Hoàng - Đinh Lễ) làm "hiệu sách".
Bà Phạm Thị Mão - chủ nhân cửa hàng sách Mão nổi tiếng - tầng 2, số 5 phố Đinh Lễ, Hà Nội.

Nói là "hiệu sách" cho oai, kỳ thực khi đó hai ông bà chỉ chuẩn bị một chiếc "bàn sách bé tí" để bày cỡ hơn chục cuốn sách bán chạy nhất.

"Cũng may, hồi đó anh em cảnh sát biết tôi nên ưu tiên cho ngồi ghé sát tường Bưu điện Bờ hồ", ông Luy kể. Vốn ít nên bán hết đến đâu, bà Mão lại đạp xe đi mua đến đó. Đây cũng chính là nơi phát tích của phố sách Đinh Lễ ngày nay.
Một "góc nhỏ" của thế giới sách trong ngõ hẻm của ông bà Luy - Mão

Kinh nghiệm mười mấy năm làm cán bộ Tổng công ty phát hành sách giúp bà thẩm định sách, giữ quan hệ với các nhà xuất bản và nhạy bén với thị trường sách ở Hà Nội. Bà kể, ngày ấy bán ít sách nhưng bán nhanh, khách đến mua "đắt như tôm tươi", có khi cả ngày chạy đi chạy lại như con thoi để kịp sách cho khách.

Dịp cuối năm, ông bà cũng treo cuốn lịch lên lấy may, vậy mà treo cuốn nào hết cuốn ấy, dù cho giá cao hơn chỗ mua chỉ cách đó... mấy bước chân. Bà kể, về sau, mùa lịch cuối năm (từ tháng 10-12) cũng là mùa làm ăn bội thu nhất năm của cửa hàng.

Lên phố
Phố Đinh Lễ tọa lạc ở vị trí đẹp bên hồ Hoàn Kiếm, nối giữa phố Đinh Tiên Hoàng sang phố Ngô Quyền, từ Đinh Lễ sách "lan tỏa" sang cả Nguyễn Xí và Tràng Tiền.
Phố sách Đinh Lễ tấp nập người mua


Nhà sách Mão nằm khiêm tốn trên gác 2 của khu tập thế Đại học Y cũ (số 5 Đinh Lễ), 5 gian sách với diện tích 200m2 thực sự là thánh địa sách với những người mê sách suốt hơn 20 năm qua.

Ông bà tìm được căn gác này sau 3 năm bán sách ở vỉa hè khi có vị giáo sư đại học muốn bán một phòng tập thể rộng 18 m2 trên gác 2 ở số 5 Đinh Lễ. Sau khi mua lại, bà chuyến sách về đây bán, ông vẫn bán ở vỉa hè để giới thiệu khách vào cửa hàng trong ngõ của bà.

Khi khách đã quen "vào ngõ", tiếng lành đồn xa, cửa hàng sách của ông bà đông như trẩy hội ở con phố khá vắng vẻ xưa nay. Thời điểm giữa những năm 90 trở đi, mỗi năm ông bà lại mua thêm một gian nhà cho đến khi cả 5 gian hiện nay được mua hết.

Thấy ông bà làm ăn được, đám nhân viên ban ngày bán sách cho ông bà, tối lại trải chiếu xuống vỉa hè Đinh Lễ bán sách. Nhiều người khác thấy vậy cũng mang chiếu sách về đây ngày càng đông, biến Đinh Lễ trở thành "phố sách đêm" nhộn nhịp nhất Hà Nội.

Khoảng những năm 2000-2001, thành phố mở chiến dịch dẹp "phố sách đêm" vỉa hè. Không được bán sách ở vỉa hè, người kinh doanh thuê cửa hàng để bán. Phố sách Đinh Lễ ra đời từ đó.
Nhà sách Mão với 5 gian sách đủ thể loại trên gác 2 - Tập thể Đại học Y


Từ căn gác nhỏ của ông bà Mão, phố Đinh Lễ nay đã trở thành phố "Hàng Sách" của thủ đô. Người ta ví von ông bà chủ hiệu sách tư nhân nổi tiếng nhất Hà Nội này chính là "Thành hoàng" khởi sự cho nghề bán sách nơi đây.

Đi vay nặng lãi lại thu lãi "vàng"

Khá nhanh nhạy với thời cuộc, thấy sách là nguồn tri thức vô tận lại thu được lợi nhuận cao, ông bà Mão dành hết tâm huyết để làm sách. Nghe thấy ở đâu có sách hay, sách quý, dù ở trong Nam ngoài Bắc hay ở nước ngoài, ông bà cũng đều tìm bằng được mang về.

Không chỉ bán sách, ông bà còn nhờ các học giả, nhà dịch thuật hợp tác nghiên cứu, tham khảo những cuốn sách hay, có giá trị, ông bà bắt tay làm luôn, bất kể lỗ lãi. Mùa Lễ Tết, họ "ôm" cả lịch về bán. Làm sách, ôm lịch không xuể với đồng vốn eo hẹp, ông bà phải tìm đến vay năng lãi.

Chuyện vay mượn của ông bà Mão cũng khá thú vị. Ông Luy kể, trước Tết khoảng 3 - 4 tháng là mùa Lịch, ông bà vay vàng để có tiền vốn và trả khi đã thu được doanh số vào cuối năm.

Sau một mùa lịch, ông bà vô tình nhận ra quy luật, "giá vàng khi vay (đem bán) cao hơn giá vàng khi trả (mua lại)" nên phần dôi ra do chênh lệch giá vàng 3 - 4 tháng trước ông bà được hưởng. Vậy là, không chỉ lãi nhờ sách, ông bà còn lãi nhờ vàng. Các năm sau, thậm chí có người ở cửa hàng vàng còn hỏi ông bà bí quyết "kinh doanh vàng" lạ lùng đó...

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

Ý tưởng kinh doanh "điên rồ"?

Spa không còn lạ lẫm tại Sài Gòn. Nhưng nếu đi ngang qua địa chỉ 44/1 Nguyễn Đình Chiểu, Q.3, nhiều người có thể “sốc” trước biển hiệu Little Dog. Thật ra với giới nuôi chó cảnh, nhất là các loại chó “đỏng đảnh”, Little Dog đã trở thành địa chỉ quen thuộc từ vài năm nay mỗi khi có nhu cầu làm đẹp cho chú chó cưng.



Chủ nhân của Little Dog là Nguyễn Ngọc Thùy Dương, một nhân vật quen thuộc trên các diễn đàn của giới nuôi chó cảnh. Ý tưởng “điên rồ” mở spa dành cho chó được hình thành sau nhiều chuyến du lịch nước ngoài.

“Tôi để ý thấy ở nước ngoài, dịch vụ làm đẹp cho chó, mèo rất nhiều. Tiệm nào cũng có đủ các loại hình không khác gì dành cho người. Có lần qua Thái Lan, tôi thấy ở Bangkok có hẳn một khu với hàng chục tiệm spa dành cho chó. Ở đây có đầy đủ dịch vụ từ massage, cắt lông, làm móng, trang điểm, quần áo, phụ kiện làm đẹp cho chó, có cả thức ăn.

Từ nhỏ vốn rất thích chó, thấy mô hình này nhiều hứa hẹn nên tôi đánh liều xin học. Năm 2008, tôi trở về và quyết tâm mở dịch vụ này, coi đó như một công việc kinh doanh nghiêm túc”, Dương kể.

Quyết tâm là vậy song cô chủ trẻ gặp không ít cảnh báo thất bại. Dương cho biết: “Thực tế là khi đời sống khá lên, nhu cầu nuôi chó làm bạn và làm đẹp cho chúng là có thật. Tuy nhiên, có lẽ loại hình này quá mới mẻ, thậm chí bị coi là trọc phú rởm do khách hàng tiềm năng thuộc diện đặc biệt nên ban đầu cũng gặp nhiều khó khăn.

Để thu hút khách, tôi tham gia và quảng bá trên các diễn đàn chó cảnh, Little Dog còn đứng ra tài trợ và làm giám khảo cho nhiều Pet Icon, từ đó lượng khách đến sử dụng dịch vụ tăng lên”.




Tại Little Dog, các “khách hàng bốn chân” sẽ được cung cấp các dịch vụ tắm massage với các loại dầu gội khác nhau, sau đó nhân viên sẽ sấy lông và tư vấn, tạo, cắt tỉa kiểu lông thích hợp cho từng vóc dáng con chó. Cũng giống như người, các chú cún còn được làm móng, ráy tai, đánh răng và cả... xức nước hoa.

Ngoài ra, còn có các dịch vụ cung cấp thức ăn theo thực đơn, các khu vực bán trang sức, tranh phục, chuồng nuôi... Để có được nguồn hàng phong phú, Dương sang Thái Lan, Hàn Quốc... mua về. Mới đây, cô còn đưa vào dịch vụ nhuộm lông cho chó.

“Tôi xác định trong hai năm đầu vừa thăm dò làm quen vừa cải tiến để hoàn thiện dần cho quãng đường tiếp theo. Hiện tại, tôi nghĩ mình đã đi đúng hướng, tìm cách mở rộng mô hình thành nhiều spa tương tự. Hiện nay, nhu cầu nuôi chó cảnh bắt đầu tăng lên, đó sẽ là cơ hội cho dịch vụ này phát triển”, cô chủ trẻ tự tin.

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

Chàng trai nuôi, dạy chim hót thu bạc tỷ

Từ bỏ công việc của một kỹ sư công nghệ thông tin, anh Phúc quyết định về quê chăm đàn chim bồ câu, chim cu gáy. Chìa đôi tay chi chít những vết chim mổ, anh cười hiền vì duyên phận đã gắn anh với nghề hái tiền tỷ này.

Từng nghĩ phải bỏ nghề

Dân làng Hiệu Chân, thôn Tân Hưng, Sóc Sơn, Hà Nội mỗi lần nói về trang trại nuôi chim cu gáy, chim bồ câu của chàng thanh niên 26 tuổi Nguyễn Văn Phúc đều tỏ vẻ thán phục, thay vì hoài nghi như trước. Cách đây 4 năm, khi Phúc quyết từ bỏ công việc của một anh kỹ sư công nghệ thông tin, người làng ai nấy đều bất ngờ và cho rằng, anh "có vấn đề".

Theo họ, người có ăn học đàng hoàng, lại cao ráo đẹp trai như anh mà bỏ nghề, về làm trang trại giống nông dân, há chẳng phải là... dở hơi hay sao? Dân làng bàn ra tán vào ghê gớm, nhưng Phúc vẫn cương quyết làm, vì ham mê chim từ nhỏ, và cũng là ảnh hưởng từ cái thú nuôi chim của cha.
Anh Phúc chăm sóc những chú chim trong trang trại.

Khởi nghiệp năm 2009 với 30 đôi chim cu gáy và 100 đôi chim bồ câu, Phúc cần mẫn và chăm chỉ chăm sóc, nuôi dưỡng chúng, như một phép thử cho chính tương lai của mình. Chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc nuôi chim, anh từ từ tìm hiểu từ sách vở, rồi hỏi han kinh nghiệm của cha, của bà con gần xa. Ngày ngày gắn bó với đàn chim từ cái máng nước đến thức ăn, dọn vệ sinh chuồng trại, đêm nằm vắt óc suy nghĩ cách phát triển đàn, rồi tăng năng suất, Phúc làm quen dần với công việc.

Nhưng đúng như người xưa đúc kết "mưu sự tại nhân, hành sự tại thiên", cuối 2009, đợt dịch gia cầm càn quét các địa phương, không loại trừ ai. Phúc bị chết hơn 200 đôi chim lớn nhỏ, thiệt hại cả 100 triệu đồng. Đó thực sự là cú sốc lớn đối với anh.
Chuồng trại nuôi chim sạch sẽ, hợp vệ sinh.

"Lúc ấy tôi suy sụp và chán nản tới mức xác định bỏ nghề. Bố mẹ tôi động viên tôi không có duyên với chim, và cũng không thể có lộc từ nghề này. Nhưng tôi nghĩ, có thể đó là những bước khó khăn ban đầu. Trời không phụ lòng người. Và tôi lại tiếp tục nuôi chim", anh Phúc chia sẻ.

Sau đó, suốt 2 tháng ròng, anh lang thang khắp các tỉnh, thành miền Bắc, hễ nghe ai nói nơi nào có người nuôi chim lâu năm là lân la xin học hỏi kinh nghiệm, rồi tìm hiểu nghề. Anh còn xuống các trung tâm chăn nuôi, gặp gỡ các chuyên gia nhờ tư vấn cách chăm sóc, phòng bệnh cho chim. Gian nan lắm, học hỏi được nhiều, anh trở về quyết tâm vực dậy đàn chim.
Đôi bồ câu ngũ sắc Hà Lan thuộc loại quý hiếm.

Đến nay, trang trại của anh có diện tích khoảng 200m2, với khoảng 130 đôi chim cu gáy và 1.000 đôi chim bồ câu cùng một số lượng không nhỏ chim trĩ. Một đôi bồ câu thịt anh bán 130.000 đồng, đôi bồ câu Mỹ giống có giá 500.000 đồng. Một tháng, trang trại nuôi chim cho anh thu nhập bình quân khoảng 50-60 triệu đồng.

Khách hàng của anh trải đều từ các tỉnh, thành trong cả nước như Tuyên Quang, Thanh Hóa, Hải Dương, Quảng Ninh, Hà Nội... Họ nhập mỗi lần ít thì 20-30 đôi, nhiều thì 200-300 đôi, tùy nhu cầu và sở thích mà chọn các giống chim các nhau. Khi bán chim giống, anh cũng kết hợp phổ biến cho khách kỹ thuật chăm sóc, phòng trị bệnh cho chim, hướng dẫn họ cách vệ sinh chuồng trại, phát triển mô hình.
Đôi chim bồ câu Mỹ vàng hiếm hoi trong trang trại.

Lớp học luyện thanh độc nhất vô nhị
Không chỉ nuôi chim lấy thịt và bán giống, anh Phúc đã từng mở các "lớp học luyện thanh" cho những chú chim cu gáy có chất lượng tốt và bán được giá cao. Kể về những lớp học luyện thanh này, anh chỉ cười, coi đó là niềm vui hàng ngày, nhân lên giá trị cuộc sống.

Anh kể, chim cu gáy có đặc tính nhát người nên việc luyện thanh cho chúng mất khá nhiều công sức và cũng có nhiều kỷ niệm vui buồn. Để huấn luyện chim gáy tốt, anh đề cao vai trò của các bản nhạc. Thông thường, anh sẽ thu các bản nhạc hay, đặc sắc rồi khuyến khích cho cu gáy hót theo. Vào các buổi sáng, anh cũng dạo các bản nhạc hay cho chim nghe, và dạy chim gáy theo kinh nghiệm riêng của mình.
Một vị khách đến trang trại mua chim.

Với mỗi chú chim cu gáy, để đạt được "chất giọng" tốt, anh phải dành ra ít nhất 1 năm huấn luyện, nhiều thì 2 năm. Anh cho biết: "Tôi đã huấn luyện qua nhiều con cu gáy, nhưng thành công nhất là được con "3 lèo 6 bổ" (gáy được 3 lèo và bổ được 6 lần - PV), huấn luyện trong 2 năm và bán được 19 triệu đồng".

Việc nuôi và huấn luyện cu gáy nhiều phen nhớ lại làm anh bật cười. "Có khi, luyện được 1 con cu gáy gáy thuần thục, chuẩn giọng nhưng vốn là giống nhát người nên khi gặp khách, cu gáy lại không gáy được. Người khách bực dọc nghi ngờ, nghĩ rằng tôi nói chơi mà đùa bỡn. Đến lúc khách dắt xe ra về, chim mới gáy, thành thử có lần tôi phải gọi khách lại mà chứng thực giọng của chim".

"Lại lần khác, có ông khách 3 ngày liền chầu chực ở cổng trang trại "nghe trộm" tiếng cu gáy. Ngày nào cũng như ngày nào, ông ấy đi cả chục km chỉ để đến nghe chim gáy rồi lại ra về. Đến ngày thứ 4, ông ấy mới lân la vào hỏi chuyện và đòi mua con chim mà ông ấy "mê mẩn" mấy ngày trời".

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013

Thu hàng tỷ đồng mỗi năm từ ong

Thu hàng tỷ đồng mỗi năm từ ong

Trong thời gian phụ giúp người anh nuôi ong, thấy nghề nuôi ong thú vị và có thể làm giàu được, Tính quyết định dừng lại ở nghề này.

Năm 1986, chàng trai 17 tuổi Phạm Hữu Tính (hiện ở ấp 3, xã Gia Canh, huyện Định Quán, Đồng Nai) rời quê hương Thạch Thành, Thanh Hóa vào Nam làm ăn kiếm tiền giúp gia đình. Tính đến nhiều địa phương, làm đủ việc từ trồng mía đến phụ nề...

Được sự giúp đỡ của Công ty Ong mật Đồng Nai, anh tìm tòi học hỏi kỹ thuật nuôi ong và năm 1993 bắt đầu nuôi ong mật. Theo anh Tính, nghề nuôi ong vất vả nhất là đi tìm nguồn hoa cho ong và vận chuyển ong đến các vùng có hoa. Thông thường từ tháng 2 đến tháng 4 âm lịch, anh vận chuyển ong ra các tỉnh phía Bắc; từ tháng 5 đến tháng 8 đưa về các tỉnh miền Trung; các tháng còn lại đưa ong vào các tỉnh phía Nam.

Một trại ong của ông Phạm Hữu Tính Do tổng số đàn ong lớn và vận chuyển xa nên anh phải vận chuyển bằng ô tô, nếu không thận trọng ong dễ chết hàng loạt, nhất là lúc đường ách tắc lâu; các trạm kiểm dịch gây khó dễ... Đó là chưa kể có người dân hiểu chưa đúng lợi ích của ong trong việc thụ phấn cho cây trồng, cho rằng ong mật gây hại cho cây nên họ không cho người nuôi ong đến đặt các trại ong.


Những lúc đó, anh Tính phải nhờ cán bộ cơ quan khuyến nông đến giải thích thì công việc mới trôi chảy. Vất vả là vậy, nhưng anh thấy thú vị với nghề này, bởi ngoài có thu nhập, anh còn được đi đây đó, được ngắm cảnh đẹp của nhiều miền quê.

Từ 100 đàn ong ban đầu, đến nay anh đã có 10 trại ong, bình quân mỗi trại có trên 200 đàn. Để trông coi,chăm sóc các trại ong, anh phải thuê 10 công nhân. Ngoài bao ăn hàng ngày, công nhân được trả lương 3 triệu đồng/người/tháng.

Anh Tính cho biết, từ ngày bắt đầu nuôi ong mật đến nay, anh đã ký hợp đồng với Công ty Ong Trung ương 2 cung cấp giống, kỹ thuật nuôi và bao tiêu toàn bộ sản phẩm mật ong. Theo anh, nếu thời tiết thuận hòa, mỗi đàn ong cho thu từ 60-70kg mật/năm. Với giá mật ong như hiện nay, mỗi năm gia đình anh thu nhập hàng tỷ đồng.

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013

Khởi nghiệp từ rắc rối với bạn cùng phòng

Chỉ vài tuần sau khi dọn vào sống ở ký túc xá Trường ĐH Pittsburgh (Mỹ), Justin Mares (22 tuổi) đã nghĩ đến việc chuyển chỗ. Nguyên nhân chính là... người bạn cùng phòng.

Justin Mares

“Bạn ấy chẳng vui vẻ chút nào và sống cô độc. Rõ ràng điều này đã ảnh hưởng đến việc học của tôi” - Mares nhớ lại. Cậu nhận ra những câu hỏi khảo sát dành cho tân sinh viên quá mơ hồ để có thể tìm được người bạn cùng phòng hợp ý nhau. Mares cho rằng các trường có thể dùng công nghệ thông tin để tìm hiểu chuyện trên như cách các website hẹn hò trực tuyến đã làm. Cậu thử nghiệm bằng cách gửi phần mềm trực tuyến RoommateFit đến 100 nhà quản lý các trường cao đẳng. Và kết quả phản hồi rất khả quan. “Các trường rất quan tâm đến phần mềm này. Đó là công cụ giúp tăng mức độ hài lòng của sinh viên” - Mares nói.

Được hỗ trợ giải thưởng 2.000USD từ Hội Doanh nhân Collegiate, Mares đã hợp tác với một nhà tâm lý học để hoàn thiện phần mềm, chi tiết hóa các câu hỏi khảo sát để có thể đánh giá tính cách tiêu biểu của từng người tham gia khảo sát.

Năm 2011, Trường ĐH Ohio đã đồng ý thí điểm dự án này. Ông Jneanne Hacker, phó giám đốc phụ trách nhà ở của trường, cho biết: “Sinh viên đặc biệt quan tâm đến ai sẽ là bạn cùng phòng của mình và mức độ tương hợp. Với 8.000 sinh viên, chúng tôi không thể liệt kê tiểu sử của từng em, rồi kết hợp các em với nhau một cách thỏa đáng nhất. RoommateFit đã giúp sắp xếp chỗ ở khoảng 1.000 tân sinh viên của trường dựa trên đặc tính chung về giao tiếp, quan niệm về các vấn đề xã hội và thói quen cá nhân”. Cuối năm học, Mares khảo sát những sinh viên đã dùng phần mềm và nhận thấy 40% trong số đó dự tính tiếp tục chung sống với bạn cùng phòng của mình vào năm tới. Kết quả này cho cậu thêm động lực tin tưởng vào dự án kinh doanh của mình.

Mares gửi kế hoạch kinh doanh đến Trường ĐH Pittsburgh và nhận được tài trợ 30.000USD cùng văn phòng làm việc. Sáu tháng sau, cậu đã ký hợp đồng với ba trường đại học: Ohio, Bách khoa miền Nam và Kentucky miền Bắc. Cả ba trường đã dùng RoommateFit để sắp xếp chỗ trọ cho 7.000 tân sinh viên năm học 2012-2013. Mỗi sinh viên trả phí từ 2-3USD.

Mares hiện đang tìm cách mở rộng ý tưởng của mình ra ngoài phạm vi trường đại học, với việc phát triển phần mềm dành cho khách hàng có nhu cầu tìm bạn cùng phòng ở TP New York và San Francisco.

Bản thân Mares cảm thấy hạnh phúc vì đã tìm ra giải pháp đơn giản cho vấn đề mà nhiều người đối mặt. Cậu tâm sự: “Khi nghe những phản hồi như: Tôi rất mến bạn cùng phòng của mình/ Thật hạnh phúc khi được sống cùng nhau... tôi thấy mình đã làm việc đáng làm, nhất là với những rắc rối chính mình đã trải qua”.

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

Hốt bạc nhờ biến thú cưng thành kim cương

Những con thú cưng đã chết đang trở thành món hời lớn của các công ty cung cấp dịch vụ làm đá quý và các món nữ trang.
Trong 10 năm qua, công ty Life Gem (bang Illinois, Mỹ), đã làm hơn 1.000 viên kim cương từ thú cưng, chủ yếu là từ chó và mèo, nhưng cũng có một số con chim, thỏ, ngựa... Khách hàng chỉ cần gửi đến công ty lọ tro cốt hay lông của những con thú cưng và chờ ngày nhận về những viên kim cương.

Sau khi tách thành phần carbon khỏi các hợp chất khác trong tro cốt của con vật, nhà sản xuất dùng carbon này và một nhân bằng pha lê đặt vào giữa những tấm kim loại lớn được nung nóng tới nhiệt độ 2.000 độ F và dưới áp suất khoảng 800.000 pound/inch vuông. Sau một vài ngày, một viên kim cương thô sẽ xuất hiện, được đem cắt và đánh bóng.


Trong 10 năm qua, công ty Life Gem (bang Illinois, Mỹ), đã làm hơn 1.000 viên kim cương từ thú cưng, chủ yếu là từ chó và mèo, nhưng cũng có một số con chim, thỏ, ngựa... Khách hàng chỉ cần gửi đến công ty lọ tro cốt hay lông của những con thú cưng và chờ ngày nhận về những viên kim cương.

Sau khi tách thành phần carbon khỏi các hợp chất khác trong tro cốt của con vật, nhà sản xuất dùng carbon này và một nhân bằng pha lê đặt vào giữa những tấm kim loại lớn được nung nóng tới nhiệt độ 2.000 độ F và dưới áp suất khoảng 800.000 pound/inch vuông. Sau một vài ngày, một viên kim cương thô sẽ xuất hiện, được đem cắt và đánh bóng.

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

Bỏ đánh giày ở Hà Nội sang châu Phi làm tỷ phú

Từ Luanda (thủ đô của nước Angola), câu chuyện lập nghiệp của Đặng Văn Hòa (Alex Hòa) có quỹ lương cho nhân viên 40.000 USD/tháng. Ít ai ngờ rằng, thuở mới lớn, Hòa đã từng bỏ nhà lên Hà Nội đánh giày.

Từ đôi bàn tay trắng

Sinh năm 1987 ở thôn Khang Giang, xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, nhiều hàng xóm bây giờ kể lại vẫn nhớ về tuổi thơ của cậu bé Hòa nghịch ngợm. Năm 14 tuổi, đang yên đang lành, cậu đùng đùng bỏ nhà lên Hà Nội để đi đánh giày. Về sau, gia đình tìm được mang về nhưng việc học hành cũng kể từ đó mà trễ nải.

Câu chuyện làm giàu ở châu Phi của bạn trẻ Đặng Văn Hòa rất đặc biệt.

Không chọn được học vấn để tiến thân, Hòa chọn nghề xây dựng vì đơn giản đó là công việc anh đam mê và phù hợp với năng lực của mình. Cậu bé Hòa bắt đầu theo các chú, các anh để học nghề xây dựng, một công việc vất vả.

Tháng 9/2008, được người thân giới thiệu, Hòa quyết định sang Angola với mục đích ban đầu là làm thợ xây vì thu nhập ở đây khá hơn tại Việt Nam. Hòa kể: "Ban đầu sang mới sang, mình làm thuê cho người Angola, mỗi tháng trừ tiền ăn ở, lương được 500 USD/tháng. Được 6 tháng, công ty làm ăn thua lỗ, cắt giảm lương của anh em người Việt. Để xoay xở thu nhập, mình phải kéo anh em ra ngoài nhận thêm công trình để làm".




Sau những công trình nhỏ, Hòa mạnh dạn đột phá chuyển sang kinh doanh và nhận về những công trình lớn hơn.

Khó khăn ban đầu lớn nhất của Hòa khi tự lập nghiệp chính là những bất đồng về ngôn ngữ và giấy tờ để hợp pháp hóa công việc xây dựng mà anh đang theo đuổi. Khi mới tách ra, vốn liếng của Hòa chỉ là một ít quan hệ với người bản xứ, ban đầu, anh chỉ nhận được những công trình rất nhỏ, số tiền thu về chỉ đủ để chi tiêu, sinh hoạt hằng ngày. Có một số vốn nhỏ kèm theo vay mượn, anh mở cửa hàng đầu tiên với dịch vụ chụp ảnh và photocopy.


Hòa cho biết: "Ban đầu thiếu vốn nên chạy vạy cũng vất vả lắm, lãi cũng không có nhiều. Nhưng mình may mắn được nhiều anh em giúp đỡ, thêm nữa, điểm đặt cửa hàng lại nằm ở khu vực trung tâm nên lấy lại vốn cũng nhanh. Trong một năm sau khi mở cửa hàng, mình không gửi được một đồng nào về nhà, nhưng đồng thời cũng đã mở được 3 cửa hàng để bán đồ điện tử và dịch vụ internet".


Gần một năm sau khi tách ra làm riêng, Hòa mới đủ tiền lo giấy tờ hợp pháp để lao động ở xứ người, tránh được nỗi lo canh cánh việc chính quyền Angola kiểm tra.


Cho đến nay, Hòa đã có 5 cửa hàng kinh doanh nhiều loại hình dịch vụ tại Angola.

Khi trở nên hợp pháp, ngoài những công trình về nhà ở, Hòa bắt đầu nhận những công trình lớn hơn như trường học. Anh đã thêm trong tay 5 cửa hàng điện tử, quán net, dịch vụ chụp ảnh, photocopy và các dịch vụ giải trí khác... Cho đến thời điểm này, Hòa đã có một lực lượng lao động với 30 người Việt Nam và 10 người bản xứ. Anh đang liên kết để thành lập một công ty, dự kiến khai trương vào đầu năm 2013.

Làm giàu - không thể thiếu đam mê
"Với quỹ lương 40.000 USD/tháng, hiện tại, lương của thợ đầu cánh mình trả là 1.500 USD/tháng; lương bình quân của các thợ và phụ khác khoảng 1.100 - 1.200 USD/tháng; nhân viên của cửa hàng là 700 - 900 USD/tháng. Tất cả đã bao ăn ở và chu cấp tiền thuốc men khi bệnh tật, tai nạn", Hòa cho biết.

Nguồn lao động người Việt Nam của Hòa chủ yếu là các thanh niên lành nghề cùng quê với anh. Hòa cho rằng, tuyển người đồng hương để làm việc cùng nơi đất khách, ngoài việc có thể tin tưởng thì cũng là một cách để xây dựng quê hương.


Thành công đến với Hòa là bởi sự nỗ lực và niềm đam mê.

Đất nước châu Phi Angola rất giàu tài nguyên và phát triển kinh tế bằng việc xuất khẩu kim cương, dầu mỏ... Lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam từ năm 1975, hiện nay có hàng nghìn người Việt Nam đang sinh sống ở Angola với nhiều nghề như xây dựng, kinh doanh và các chuyên gia giáo dục và y tế...

Bên cạnh sự phát triển kinh tế, tình hình an ninh đối với người Việt Nam ở đất nước này còn nhiều bất ổn. Hòa kể: "Tháng 7/2011, 7 tên cướp có vũ trang mang theo dao và súng đến đe dọa mà cướp đi của mình 50.000 USD cùng với nhiều tài sản quý khác. Kể từ đó, mình cũng phải cẩn thận hơn, chuyển chỗ ở và lắp camera để đảm bảo an ninh cho anh em yên tâm làm việc".

Angola là một đất nước đang phát triển.

Hiện tại, hoạt động xây dựng và kinh doanh của Hòa đã đi vào ổn định, anh cho biết, tất cả các mục tiêu anh đặt ra từ đầu năm cho đến nay đều đã đạt được. Về tương lai gần, anh dự định mở tiệm làm gạch và cửa hàng bán vật liệu xây dựng để hỗ trợ thêm cho nghề xây dựng vốn là sở trường của anh. Hiện tại, anh đã mua máy móc và phương tiện, và đang tìm kiếm địa điểm thuận lợi để đặt xưởng. Dù những may mắn và thành công đến với Hòa nhanh nhưng anh vẫn mong một ngày được trở về Việt Nam, vì chẳng nơi nào an toàn hơn quê hương mình.
Giải lao sau lao động của người Việt Nam tại Angola.

Lập nghiệp thành công dù con đường học hành trắc trở, Hòa tâm sự: "Nếu được lựa chọn lại, mình sẽ đi học và vẫn chọn nghề xây dựng để lập nghiệp. Được đi đó đi đây với những công trình là niềm yêu thích của mình từ ngày còn nhỏ".

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2013

Thu hàng tỷ đồng mỗi năm từ ong

Trong thời gian phụ giúp người anh nuôi ong, thấy nghề nuôi ong thú vị và có thể làm giàu được, Tính quyết định dừng lại ở nghề này.

Năm 1986, chàng trai 17 tuổi Phạm Hữu Tính (hiện ở ấp 3, xã Gia Canh, huyện Định Quán, Đồng Nai) rời quê hương Thạch Thành, Thanh Hóa vào Nam làm ăn kiếm tiền giúp gia đình. Tính đến nhiều địa phương, làm đủ việc từ trồng mía đến phụ nề...

Được sự giúp đỡ của Công ty Ong mật Đồng Nai, anh tìm tòi học hỏi kỹ thuật nuôi ong và năm 1993 bắt đầu nuôi ong mật. Theo anh Tính, nghề nuôi ong vất vả nhất là đi tìm nguồn hoa cho ong và vận chuyển ong đến các vùng có hoa. Thông thường từ tháng 2 đến tháng 4 âm lịch, anh vận chuyển ong ra các tỉnh phía Bắc; từ tháng 5 đến tháng 8 đưa về các tỉnh miền Trung; các tháng còn lại đưa ong vào các tỉnh phía Nam.

Một trại ong của ông Phạm Hữu Tính Do tổng số đàn ong lớn và vận chuyển xa nên anh phải vận chuyển bằng ô tô, nếu không thận trọng ong dễ chết hàng loạt, nhất là lúc đường ách tắc lâu; các trạm kiểm dịch gây khó dễ... Đó là chưa kể có người dân hiểu chưa đúng lợi ích của ong trong việc thụ phấn cho cây trồng, cho rằng ong mật gây hại cho cây nên họ không cho người nuôi ong đến đặt các trại ong.


Những lúc đó, anh Tính phải nhờ cán bộ cơ quan khuyến nông đến giải thích thì công việc mới trôi chảy. Vất vả là vậy, nhưng anh thấy thú vị với nghề này, bởi ngoài có thu nhập, anh còn được đi đây đó, được ngắm cảnh đẹp của nhiều miền quê.

Từ 100 đàn ong ban đầu, đến nay anh đã có 10 trại ong, bình quân mỗi trại có trên 200 đàn. Để trông coi,chăm sóc các trại ong, anh phải thuê 10 công nhân. Ngoài bao ăn hàng ngày, công nhân được trả lương 3 triệu đồng/người/tháng.

Anh Tính cho biết, từ ngày bắt đầu nuôi ong mật đến nay, anh đã ký hợp đồng với Công ty Ong Trung ương 2 cung cấp giống, kỹ thuật nuôi và bao tiêu toàn bộ sản phẩm mật ong. Theo anh, nếu thời tiết thuận hòa, mỗi đàn ong cho thu từ 60-70kg mật/năm. Với giá mật ong như hiện nay, mỗi năm gia đình anh thu nhập hàng tỷ đồng.

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

Nâng tầm... tàu hũ

Tàu hũ trước giờ chỉ là món ăn bình dân gắn liền với hình ảnh người bán kĩu kịt đôi quang gánh, nhưng một nhóm sinh viên đã đưa món ăn này trở thành một đặc sản của Việt Nam với chuỗi bốn cửa hàng.


Chủ nhân của dự án này là Đỗ Tuấn Ân, chàng trai quê Quảng Ngãi đã nảy ra ý định biến tàu hũ thành món đặc sản, đưa vào kinh doanh khi chuẩn bị tốt nghiệp Đại học Ngân hàng.

Sau khi đọc một cuốn sách của Philip Kotler, chuyên gia nổi tiếng về marketing, nhận định rằng Việt Nam có thể nổi lên như một địa điểm hấp dẫn và phong phú với ẩm thực truyền thống, Ân từ bỏ công việc đang làm, về quê thuyết phục một người bà con vào Sài Gòn nấu tàu hũ... bán dạo trước chợ Bến Thành.

"Để tàu hũ có thể tiếp cận du khách và đông đảo người dùng cũng như trở thành một ngành kinh doanh thì không thể chỉ bằng một vài gánh bán dạo", nghĩ vậy, Ân vay mượn tiền làm vốn mở cửa hàng, bất kể sự can ngăn và lo ngại của gia đình lẫn bạn bè, vì: "Đây là món ăn chơi, vốn ít, mở cửa hàng sang trọng cầm chắc sạt nghiệp".

Sau rất nhiều nỗ lực và quyết tâm, Ân cùng nhóm bạn là các sinh viên Lê Hận, Thanh Tùng, Nguyễn Thanh Tùng, Thanh Huy mở một quán lớn ngay trước cổng Trường Đại học Ngân hàng và... thất bại.

Không bỏ cuộc, Ân và các bạn đưa cửa hàng vào ký túc xá Đại học Nông Lâm TP.HCM và bắt đầu tìm ra hướng đi. Tàu hũ là món ăn bổ dưỡng, bình dân, thành phần khách hàng đa dạng và rất phù hợp với sinh viên. Món này ai cũng có thể nấu được nhưng làm sao để chinh phục được dạ dày của khách hàng mới là điều quan trọng.

Thế là nhóm của Ân chia nhau mày mò tìm công thức chế biến, và từ số vốn ít ỏi do cả nhóm tích cóp, vay mượn, nhóm mở rộng quy mô cửa hàng bằng việc thành lập Công ty TNHH Tàu hũ HAT. Tên công ty là gộp chung chữ cái đầu trong tên của các thành viên trong nhóm, thể hiện sự đoàn kết, quyết tâm thực hiện dự án.

HAT chọn khu vực Làng Đại học Linh Trung làm điểm đến và mở luôn bốn chi nhánh. "Có không gian sẽ giúp việc kinh doanh thuận lợi hơn và nâng món ăn này lên một vị trí mới chứ không chỉ sơ sài với hàng quán lề đường. Khách hàng có thể tổ chức những cuộc gặp mặt thân mật ngay tại quán. Điều quan trọng nhất là phải có thực đơn phong phú để khách hàng không chỉ thưởng thức mà còn có thể tìm hiểu công dụng và lợi ích đối với sức khỏe của từng món tàu hũ qua đó tạo nên sự khác biệt cho HAT", Ân cho biết.

Tìm hiểu từ nhiều nguồn, nhóm của Ân kết hợp tàu hũ với nhiều loại lá mang hương vị khác nhau để tạo ra hơn 30 món tàu hũ: tàu hũ đá, tàu hũ nóng, tàu hũ lá nếp... Thực đơn được sắp xếp và trình bày theo kiểu tạp chí với hình ảnh minh họa và những thông tin về đặc điểm, công dụng của từng món.

HAT ngay lập tức thu hút được sự chú ý của khách hàng bởi sự chuyên nghiệp và kỹ lưỡng tưởng như rất tiểu tiết này. "Mong muốn của cả nhóm là dự án này sẽ ngày càng mở rộng quy mô và hình thức để qua đó có thể biến món ăn này trở thành một đặc sản, đó cũng là mục đích dự án hướng tới", Ân chia sẻ.

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013

Dịch vụ đặt món ngon trên điện thoại

Thực khách có thể chọn món ngon được thực hiện bởi các đầu bếp uy tín nhất nhờ vào chương trình Munchery trên kho ứng dụng trực tuyến. Mô hình này đã giúp Munchery có doanh thu 1 triệu USD và nhận được khoản đầu tư 4 triệu USD.

Munchery được thành lập vào mùa xuân năm 2010 bởi Giám đốc điều hành Tri Tran và Giám đốc công nghệ Conrad Chu. Công ty có trụ sở San Francisco, chuyên cung cấp dịch vụ đặt món ăn trực tuyến do các đầu bếp hàng đầu đảm trách thông qua chương trình Munchery trên kho ứng dụng trực tuyến.

Năm đầu tiên, Munchery chỉ tập trung xây dựng mô hình kinh doanh và các vấn đề liên quan tới việc vận hành. Đến cuối năm 2011, mọi hoạt động của công ty mới bắt đầu theo đúng quỹ đạo. Trong báo cáo của Munchery, mỗi tháng công ty phục vụ tổng cộng 60.000 bữa ăn, tức là trong mỗi phút có thể bán nhiều hơn một món ăn. Cũng vào năm này, Munchery tạo ra doanh thu 1 triệu USD. Nhận thấy tiềm năng và mức sinh lợi trong tương lai, một số nhà đầu tư mới tham gia rót khoảng 4 triệu USD cho công ty vào đầu năm 2012.

Điểm hay của Munchery là biết cách mạng công nghệ vào lĩnh vực ẩm thực và xây dựng một dịch vụ phục vụ bữa tối nhanh chóng và chất lượng, tương tự các chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh.

Cả Tri Tran và Conrad Chu đều không có kiến thức về ngành thực phẩm. Ý tưởng thành lập Munchery bắt nguồn từ nhu cầu trong cuộc sống cá nhân. Tran cho biết, trước đây anh và Chu rất bận rộn trong công việc và gần như không còn thời gian để nghĩ đến ăn tối. "Mọi người khi đi làm, họ không có thời gian nấu ăn và thường chẳng nghĩ về bữa ăn tối cho đến lúc 5h chiều”, Tri Tran nói.
Tri Tran, Giám đốc điều hành Munchery. Ảnh: SanFranciso Business Times.

Để có thể sử dụng dịch vụ Munchery, thực khách đăng nhập từ trang web công ty hay dùng chương trình Munchery trên điện thoại thông minh Apple hoặc điện thoại Android để duyệt các món ăn, sau đó thanh toán qua thẻ tín dụng. Sau khi hoàn tất giao dịch, món ăn sẽ được giao tận nhà hay tại văn phòng ngay buổi tối hôm đó.

Lúc ban đầu, Munchery thu tiền phí khi người dùng xài ứng dụng Munchery. Tuy nhiên, nay Munchery bỏ loại phí này, thay vào đó, công ty lấy 20% trên tổng chi phí một bữa ăn, 80% còn lại các đầu bếp sẽ được nhận trực tiếp.

Các bữa ăn trung bình có giá dao động từ 12 USD đến 15 USD một người. Thực đơn được thay đổi thường xuyên để thích hợp với gu ẩm thực đa dạng của khách hàng, Tran cho biết. Munchery có thực đơn mới mỗi ngày và chúng sẽ được gửi đến khách hàng mỗi buổi sáng bằng email. Khách hàng có thể duyệt danh mục thức ăn bao gồm các tùy chọn ăn kiêng như rau, thức ăn hữu cơ… Lúc mới thành lập, thực đơn có khoảng 2 danh mục, nhưng hiện mở rộng đến hàng chục. Đối tượng khách hàng của Munchery là những người trẻ tuổi không có thời gian tự nấu ăn, người cao tuổi và những gia đình trẻ.

Tiêu chí của Munchery là cho phép các đầu bếp tập trung vào việc nấu ăn, chứ không phải lo lắng các chi tiết về hậu cần, chẳng hạn như giao hàng. Thay vào đó, Munchery sử dụng dịch vụ của bên thứ ba để có thể giao thức ăn cho khách đúng giờ.

Các đầu bếp tại Munchery có nhiệm vụ lên kế hoạch thực đơn rồi nấu những bữa ăn đó và họ có thể thuê không gian bếp công ty nếu có nhu cầu. Trong lúc đó, Munchery giúp đầu bếp biết chính xác có bao nhiêu phần ăn cần giao trong ngày cũng như quản lý đơn hàng và giao đúng hạn.

Munchery có hơn 50 đầu bếp, nhưng khoảng 5-10 người thường xuyên túc trực vào các ngày ấn định. Các đầu bếp của Munchery được hưởng đầy đủ phúc lợi, thời gian làm việc từ thứ hai đến thứ sáu, thay vì phải làm suốt đêm và những buổi cuối tuần như phần lớn các nhà hàng khác đang áp dụng. Ban đầu, các đầu bếp chỉ xem Munchery là nơi kiếm thêm thu nhập, tuy nhiên sau đó họ nhận ra cung cấp dịch vụ thức ăn trên kho ứng dụng trực tuyến là một chọn lựa tốt hơn so với công việc toàn thời gian họ đang làm.

Tran cho biết, công ty muốn tạo cơ hội để các đầu bếp tài năng có một sự nghiệp mới, nghĩa là họ có thể tự sáng tạo và phát huy hết kỹ năng để chế biến món ăn mới mỗi ngày. Đây là cơ hội tốt cho các đầu bếp có được thương hiệu riêng.